Saturday, April 3, 2010

Nếu Trung Quốc loại bỏ Google, chúng ta sẽ loại bỏ máy tính của họ


Nếu Trung Quốc loại bỏ Google, chúng ta sẽ loại bỏ máy tính của họ

 
Khái niệm bình đẳng song phương trong kinh doanh có một lịch sử lâu dài, và là một khái niệm mà ngày nay ta vẫn phải nhớ. Chẳng hạn, nếu chúng ta cho phép sản phẩm của cỗ máy công nghiệp khổng lồ Trung Quốc xâm nhập thị trường, mang lại việc làm cho 100 triệu công nhân Trung Quốc (số dân Trung Quốc làm việc trong lĩnh vực sản xuất) thì họ cần phải cho phép những công ty sáng tạo của chúng ta xâm nhập thị trường, ví dụ như Google.
 
Nhưng không chỉ riêng Google đang bị ép ra ngoài bởi một chuỗi những hành động và âm mưu của chính quyền Trung Quốc, mà YouTube, một nhánh của Google, không bao giờ được cho phép tại Trung Quốc. Nó đã bị khóa thường trực bởi tường lửa. Phần lớn các website khác của Hoa Kỳ cũng không được tự do trên thị trường Trung Quốc. eBay đã rời Trung Quốc. Nhiều tờ báo mạng thường xuyên bị kiểm duyệt. Những công ty Trung Quốc sẵn lòng chấp nhận sự kiểm duyệt và độc tài của chính quyền Trung Quốc, như Baidu và Alibaba, là những tay chơi máu mặt trên thế giới mạng của nước này. Đây không chỉ là một vấn đề về tự do ngôn luận. Nó còn là một hàng rào mậu dịch và một vấn đề kinh tế nghiêm trọng đối với Hoa Kỳ. Chỉ riêng Google đã có trên 20,000 nhân viên, nhiều người ở ngay Hoa Kỳ, và họ và công ty đã bị cắt giảm vì những hành động trên, cũng giống như nhân viên tại eBay và các công ty website khác.
 
Chúng ta đang chiến đấu để xây dựng lại lĩnh vực sản xuất của chúng ta, nhưng mặt khác, chúng ta cần phải đảm bảo các công ty như Google được hoạt động toàn vẹn trên thị trường lớn nhất thế giới, Trung Quốc. Nếu một công ty không thể xâm nhập vào thị trường lớn nhất thế giới để bán sản phẩm của mình, nó sẽ mất đi khoản thu khổng lồ. Và vì quy luật lợi thế kinh tế theo quy mô (economy of scale) và khả năng đi xuống trên đường học hỏi (learning curve) công ty sẽ chịu những bất lợi so với các địch thủ khác đang ngoi lên.
 
Từng có một sự thỏa thuận bất thành văn giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về internet. Hoa Kỳ đồng ý giảm tất cả các khoản thuế đối với các sản phẩm công nghệ cao xuống mức zero, và chúng ta từng cho phép tất cả những gì Trung Quốc có thể mang sang đây bán, không vấn đề gì. Và kết quả là gì? Kết quả là một số lượng lớn máy tính ở Hoa Kỳ là hàng Trung Quốc. Chúng ta thậm chí còn cho phép nhà sản xuất máy tính đầu tiên của Hoa Kỳ, IBM, bán nhánh PC của mình cho Levono, một công ty Trung Quốc. Lẽ ra vụ mua bán này có thể bị ngăn chặn, dưới một luật Hoa Kỳ gọi là luật Exon-Florio, nhưng chúng ta không những không ngăn chặn nó, mà chúng ta thậm chí còn không đặt vấn đề về nó.
 
Tại sao? Bởi vì chúng ta từng tin rằng, vì Trung Quốc trên quá trình công nghiệp hóa và đi trên xa lộ kinh tế và tri thức, họ sẽ trở thành một thị trường lớn đối với những sản phẩm vốn là lợi thế của chúng ta, như công cụ tìm kiếm, video phát trực tiếp (streaming video), và các trang web sáng tạo (innovative website).
 
Nhưng họ lại không phải như vậy. Vì vậy chúng ta đang ở thế hoàn toàn không cố thủ được. Phần cứng internet, máy vi tính, ổ đĩa, đồ bán dẫn… toàn bộ là sản xuất tại Trung Quốc, không phải tại đây. Rất nhiều phần mềm internet, được sản xuất, nâng cao và liên tục cải tiến ở đây thì bị cấm tại Trung Quốc. Bởi vậy các ngành công nghiệp của họ phát triển, họ có thêm nhiều việc làm, nền kinh tế của họ tránh khỏi khủng hoảng. Nền kinh tế của chúng ta co lại, số việc làm giảm xuống, và những công ty sáng tạo của chúng ta bị ảnh hưởng vì không được phép xâm nhập vào thị trường internet lớn nhất thế giới.
 
Và tình hình ngày càng tệ hơn. Ngày càng nhiều nhà sản xuất chuyển xưởng của họ sang Trung Quốc, do các khoản trợ cấp, lao động rẻ mạt, tiêu chuẩn vệ sinh môi trường thấp. Thật mỉa mai, chỉ cách đây ít lâu chúng ta còn nghĩ rằng máy tính và đồ bán dẫn là những ngành công nghiệp sáng tạo mà chúng ta sẽ luôn giữ tại Mỹ. Nhưng về cơ bản các ngành này đã rời khỏi bờ biển của chúng ta, mặc dù phần sáng tạo hơn thì vẫn chưa. Khu vực sản xuất máy tính lớn nhất thế giới là tại tỉnh Quảng Đông, phía bắc Hồng Kông, nơi Foxconn có 200,000 người làm nhà thầu phụ cho nhiều nhãn hiệu Hoa Kỳ và các nước khác. Trong khi đó, hàng nghìn kỹ sư và công nhân dây chuyền lắp ráp Hoa Kỳ bị thất nghiệp.
 
Chính phủ Trung Quốc muốn thương mại hoàn toàn một chiều, trong đó Trung Quốc tích lũy kiến thức và tiềm lực công nghiệp và dự trữ thương mại còn chúng ta thì không được gì. Nếu có bất cứ một lĩnh vực nào đó mà chúng ta có lợi thế rõ rệt thì đó là địa hạt phức tạp và đòi hỏi sáng tạo cao của Google.
 
Năm 2009 Trung Quốc xuất khẩu 126 tỷ dollar Mỹ máy tính và thiết bị điện sang Hoa Kỳ. Chúng ta chỉ xuất khẩu một khoản khá bèo, 14 tỷ dollar Mỹ sang nước họ. Khi xem xét những lợi thế thương mại này, người ta có thể cho rằng họ sẽ nể mặt các công ty internet của chúng ta, nhưng họ lại không.
 
Đòi hỏi bình đẳng song phương không phải là bảo hộ thương mại và không thể vấp phải sự chỉ trích nào từ phía Trung Quốc, WTO hay ngay cả những thành phần tự do nhất. Bình đẳng song phương là quy luật chung của tất cả các thỏa thuận thương mại trên thế giới. Chúng tôi để anh bán trên thị trường của chúng tôi những hàng hóa mà anh có thể sản xuất hiệu quả hơn. Anh để cho chúng tôi bán trên thị trường của anh những hàng hóa và dịch vụ mà chúng tôi sản xuất. Nếu Trung Quốc loại bỏ những công ty internet của chúng ta, chúng ta cần loại bỏ phần cứng của họ.
 

Gót chân Asin của Trung Quốc


Gót chân Asin của Trung Quốc
Tác giả: Dương Danh Dy
 
 
Sau 30 năm tiến hành cải cách, mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu rất to lớn không ai có thể phủ nhận nhưng cũng còn nhiều vấn đề. Siêu cường thứ hai cũng có gót chân Asin của mình - nhà nghiên cứu Dương Danh Dy.
 
Trong cuộc phát triển có thể nói là nhanh như vũ bão chưa từng có ấy, Trung Quốc hiện đang đứng trước nhiều vấn đề, nhiều tồn tại lớn, không thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà  nếu xử lý không tốt, hoặc khi khí hậu, tình hình quốc tế có những diễn biến đột xuất, có thể phát sinh những chuyện khó lường.
Những tồn tại, những vấn đề, những số liệu, những nhận định dưới đây đều lấy từ những tài liệu công khai của Trung Quốc hoặc của những tờ báo, hãng thông tấn nước ngoài có uy tín, nhằm giúp người đọc hiểu thêm "mặt trái" của Trung Quốc, một mặt mà trong thời gian qua vì nhiều lý do chúng ta đã không chú ý, hoặc không muốn, hay ngần ngại không đề cập tới.
Người viết hoàn toàn không có ý định hạ thấp hoặc nói xấu đối với người bạn lớn phương Bắc của chúng ta, người - mặc dù vẫn tự xưng là nước đang phát triển - nhưng thực ra đã là siêu cường thứ hai trên thế giới rồi.
Tuy vậy, cần thấy rằng dù đã là siêu cường thứ hai, nhưng không phải là  người khổng lồ đó không có gót chân Asin.
Người viết còn muốn nói thêm rằng, do cùng từ nền kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (hay kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa), Trung Quốc lại tiến hành cải cách trước, nên một số việc làm chưa tốt hay tồn tại của họ, nếu biết nghiêm túc, khôn ngoan... rút kinh nghiệm thì có thể là những bài học có ích.
---
Báo cáo chính trị tại ĐH 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc (15/10/2007) đã chỉ rõ các tồn tại cơ bản của Trung Quốc trong 30 năm cải cách, mở cửa, bao gồm: Trả giá quá lớn đối với tài nguyên, môi trường trong tăng trưởng kinh tế; Phát triển không cân đối giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền, giữa kinh tế và xã hội;(nông thôn phát triển tụt hậu); Phát triển ổn định nông nghiệp và duy trì tăng thu nhập cho nông dân ngày càng khó khăn hơn; Việc làm, bảo đảm xã  hội, giáo dục y tế, nhà ở, tư pháp, trị an xã hội v.v.. tồn tại khá nhiều vấn đề; Xa xỉ, lãng phí, tiêu cực tham nhũng vẫn khá nghiêm trọng; Xu thế mở rộng khoảng cách phân phối thu nhập (nhất là giữa thành thị  và nông thôn) về cơ bản vẫn chưa xoay chuyển được. Dân số nghèo ở thành thị và nông thôn, ngưòi thu nhập thấp vẫn còn một sô lượng tương đối lớn....
Còn có thể nhặt thêm một số tồn tại nữa trong báo cáo trên, nhưng có lẽ như vậy cũng đã tương đối đủ.
Trước hết phải nói rằng, những nhận xét đánh giá trên của TW Đảng Cộng sản Trung Quốc là tương đối chính xác, đúng mức và có phần "dũng cảm", vì họ đã dùng đến những từ như "trả giá quá lớn...", "phát triển tụt hậu", "khá nghiêm trọng", "cơ bản vẫn chưa xoay chuyển được","sức ép vẫn tồn tại lâu dài" v.v.. Nhưng nếu đi sâu vào vấn đề, sẽ thấy những nhận định đánh giá đó còn chưa cụ thể, chưa đủ độ sâu, chưa nói hết được những nguy cơ tiềm ẩn. Dưới đây là những vấn đề cụ thể: Ăn vào tài nguyên của con cháu Để đáp ứng yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp, mỗi năm Trung Quốc cần một lượng nguyên vật liệu khổng lồ. Dù có dự trữ nhưng một số năng lượng, nguyên vật liệu thiết yếu đã có dấu hiệu cạn kiệt.
Từ năm 1993, Trung Quốc đã từ nước xuất khẩu dầu mỏ trở thành nuớc nhập khẩu dầu mỏ với số lượng ngày càng lớn. Năm 2004 nhập khẩu 120 triệu tấn, năm 2005 nhập khẩu 136 triệu tấn (trên tổng lượng tiêu thụ là 317 triệu tấn), năm 2006 nhập khẩu 145,18 triệu tấn, năm 2007 nhập gần 200 triệu tấn (trong khi dự kiến trước đó là đến năm 2010 mới phải nhập 160 triệu tấn). Lượng nhập khẩu dầu đã nhiều hơn lượng sản xuất trong nước và tốn một lượng ngoại tệ là 96,2 tỷ USD. Lượng tiêu dùng dầu mỏ của Trung Quốc đã đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ, và đã vượt Nhật).
Khi một nước mỗi năm phải nhập khẩu trên 100 triệu tấn dầu là có nguy cơ về an ninh quốc gia, nếu thế giới hoặc khu vực nhập khẩu chính có sự kiện đột biến. Hơn nữa, cần chú ý là 50% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc đến từ Trung Đông, 25% từ châu Phi, 15% từ Đông Nam Á. 80% lượng dầu nhập khẩu đều phải qua eo biển Malacca (dễ bị người ta "phong toả" khi có chuyện) trong khi của Mỹ lượng dầu nhập khẩu có tới 3/4 là từ Canada, Mexico, Venezuela... (với Mỹ là an toàn trong vận chuyển hơn nhiều). Ngoài ra 90% lượng dầu nhập khẩu của Trung Quốc phải vận chuyển bằng tầu chở dầu nước ngoài, và một tồn tại lớn là đến nay Trung Quốc hầu như chưa có kho chứa dầu dự trữ. Cũng phải nói thêm, ở những nước tiên tiến như Nhật Bản, khi kinh tế tăng trưởng 100 điểm thì tiêu hao dầu mỏ mới tăng 10 điểm, trong khi của Trung Quốc là kinh tế tăng 100 điểm thì tiêu hao dầu mỏ phải tăng tới 80 điểm! Qua đó có thể thấy trong tương lai gần, lượng nhập dầu mỏ của Trung Quốc còn tăng hơn nữa. Đứng trước mấy vấn đề: tìm cho được và bảo đảm nguồn cung cấp dầu mỏ cũng như bảo đảm đường vận chuyển, Trung Quốc đã chạy vạy khắp nơi tìm nguồn (Trung Đông, Châu Phi, Châu Mỹ Latinh..) ra sức đầu tư bằng mọi cách, nhiều khi bấp chấp áp lực chính trị (vấn đề Dafur ở Sudan, quan hệ với chính quyền quân sự Myanmar v.v..) Trung Quốc cũng thiếu nhiều loại kim loại mầu. Qua việc thương nhân Trung Quốc săn lùng mua than, quặng kim loại các loại, một  số nguyên, vật liệu.. cũng như hăng hái tìm cách đầu tư vào lĩnh vực này ở nước ta càng thấy rõ thêm vấn đề. Có người Trung Quốc đã cảm khái thốt lên: "chúng ta đã và đang ăn vào tài nguyên của đời con, đời cháu."
Sông Hoàng Hà ô nhiễm. Ảnh AP
Để giải quyết tình trạng khan hiếm, cạn kiệt năng lượng và tài nguyên, gần đây Trung Quốc đã tích cực điều chỉnh cơ cấu năng lượng, giảm bớt tỷ lệ than trong toàn bộ cơ cấu năng lượng, từ khoảng 65%-69% hiện nay xuống khoảng 54% vào năm 2020, điện hạt nhân từ 1% lên 9,1% . Trung Quốc đẩy mạnh chiến lựoc ngoại giao năng lượng nhằm đảm bảo nguồn cung cấp dầu khí, từ mấy nước Trung Á, Nga trong thời gian tới. Trả giá môi trường Để có hiệu quả nhanh, tốn ít đầu tư, để chiều lòng khách đầu tư nước ngoài và vì nhiều nguyên khác nữa như sự thiếu hiểu biết, sự liều mạng, bất chấp v.v.. sau 30 năm cải cách mở cửa, tình trạng ô nhiễm của Trung Quốc đã đến độ cực kỳ nguy hiểm. Không phải tự nhiên báo cáo chính trị ĐH 17 phải đề xuất xây dựng "văn minh sinh thái" và trong 5 "siêu bộ" được thành lập tháng 3 năm 2008 có "Bộ Môi trường". Số liệu chung nhất là  70% nước sông, hồ... và 90% nguồn nước ngầm của Trung Quốc đã bị ô nhiễm với mức độ khác nhau. Nguồn nước ô nhiễm đã làm cho hơn 10% cây công nghiệp của Trung Quốc bị nhiễm kim loại nặng và các vật ô nhiễm khác. Ở một số nơi muối làm ra cũng bị ô nhiễm Mỗi năm có khoảng 30 tỷ tấn nước ô nhiễm chưa trải qua xử lý đã thải ra sông, hồ. Ngoài ra còn có 24 tỷ tấn phế thải công nghiệp. Bột Hải (được coi như nội hải của Trung Quốc) vì phải chứa các nguồn nước ô nhiễm và phế thải công nghiệp nên đang đứng trước nguy cơ sẽ là "biển chết" và nếu là "biển chết" thì phải mất 200 năm mới cứu được. Thái Hồ (hồ nước ngọt lớn của Trung Quốc) đã bị ô nhiễm tới mức phải bỏ ra 15 tỷ USD trị lý trong 10 năm mới có thể trở lại như xưa (trong đó có việc phải đóng cửa hàng ngàn xí nghiệp nhỏ chưa giải quyết được vấn đề ô nhiễm như 772 xí nghiệp hoá chất, 125 nhà máy chế tạo accu, 76 nhà máy giấy v.v..) Việc Thủ tướng Ôn Gia Bảo phải đứng ra chủ trì một cuộc họp chuyên giải quyết vấn đề ô nhiễm ở đây cho thấy tình trạng nghiêm trọng của vấn đề). 70% năng lượng của Trung Quốc là than (mỗi năm dùng tới trên 3000 triệu tấn) cộng thêm khói bụi của hàng vạn nhà máy (chưa qua xử lý), của hàng trăm triệu chiếc ôtô, xe có động cơ... đã làm cho Trung Quốc trở thành nước có lượng khí thải CO2 lớn nhất thế giới, gây hiệu ứng nhà kính rất cao. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, mỗi năm Trung Quốc có khoảng 750.000 người chết vì ô nhiễm (chủ yếu là do ô nhiễm không khí) còn số người sau đó hàng mươi, hai mươi năm mới chết vì bị ung thư thì chưa tính được. 60% dân số thành phố Trung Quốc chịu mức ô nhiễm không khí cao hơn 5 lần tiêu chuẩn của WHO. Cái giá phải trả cho ô nhiễm rất cao (năm 2003 cái giá phải trả cho ô nhiễm sức khoẻ vào khoảng 6% GDP).
Số rác thải của Trung Quốc hàng năm của Trung Quốc đã gia tăng với tốc độ trên 10%/năm cao hơn số trung bình cao nhất thế giới 1,5%. Tổng lượng rác thải trong các thành phố của Trung Quốc hàng năm đã gần tới 150 triệu tấn.
Trung Quốc được coi là đất nước bị rác rưởi bao vây nghiêm trọng nhất thế giới. Trong hơn 600 đô thị lớn nhỏ của Trung Quốc thì 2/3 thành phố lớn bị rác rưỏi bao vây,1/4 thành phố không có bãi rác hợp lệ. Chỉ có 50% số rác thành phố là được xử lý (nguồn Đại kỷ nguyên ngày 19/7/2009)
Phải chăng, những thuyết minh cụ thể trên đã nói lên tương đối đầy đủ và sâu sắc thêm ý nghĩa của câu "phải trả giá quá lớn"? Những tầng lớp bị bỏ bên lềTrung Quốc tiến hành cải cách ở  nông thôn trước bằng việc thực hiện khoán sản lượng tới hộ. Do được làm chủ ruộng đất và tự vạch kế hoạch làm ăn... tính tích cực sản xuất của người nông dân nâng cao rõ rệt. Chỉ trong thời gian ngắn, đời sống đa số nông dân đã được cải thiện rõ rệt. Nhưng từ năm 1984 khi Trung Quốc bắt đầu mở rộng cải cách ra thành phố thì hầu như trong suốt 14 năm sau đó (đến năm 1998) "người ta" đã quên nông dân- chữ dùng của một nhà nghiên cứu của Trung Quốc. Phải qua nhiều cuộc đấu tranh của nông dân (do mất ruộng đất, không kiếm đựoc việc làm...), của các nhà nghiên cứu, của một số người lãnh đạo Trung Quốc có tâm huyết v.v.. Mãi đến đầu thế kỷ 21, vấn đề nông dân mới được coi trọng và mấy năm gần đây đã và đang có những chính sách cụ thể nhằm giải quyết vấn đề "tam nông" (nông nghịêp, nông thôn, nông dân). Để nói rõ thêm một tồn tại lớn nữa, người viết muốn nêu thêm một vấn đề: nông dân vào thành phố làm thuê. Trung Quốc hiện nay có từ 120 triệu đến 200 triệu nông dân vào thành phố làm thuê. Đây là một vấn đề rất lớn. Nông dân, nông nghiệp Trung Quốc là nơi đóng góp nhiều nhất cho sự nghiệp công nghiệp hoá của Trung Quốc trong giai đoạn đầu, những khoản nợ Liên Xô trong thời kỳ đầu xây dựng nước (hơn 150 công trình) và những công trình công nghiệp nặng nhập khẩu thời kỳ giữa những năm 70 với một số nước tư bản (nhà máy gang thép Bảo Sơn, Khu công nghiệp hoá chất Đông Bắc v.v..) đều được trả chủ yếu bằng nông sản, nhưng người nông dân hầu như không đựoc hưởng lợi từ đó mà còn bị thiệt thòi do chênh lệch giá cánh kéo (giá nông sản phẩm một thời gian dài  thấp hơn giá thị trường nhiều lần...) Theo tiêu chuẩn của Trung Quốc:  tiêu chuẩn nghèo tuyệt đối của một nông dân là thu nhập dưói 785 NDT/năm, thì năm 2007 còn có 14,79 triệu người (giảm 6,69 triệu người so với năm trước); còn nếu  theo tiêu chuẩn thu nhập thấp 786-1067NDT/ năm thì có 28,41 triệu người. Tuy nhiên báo cáo của Ngân hàng châu Á mùa hè năm 2007 cho biết  có 300 triệu ngưòi Trung Quốc (chủ yếu là nông dân) có thu nhập dưới 1 USD/ngày. Thu nhập của nông dân nói chung thấp đến nỗi người ta đã tính ra một học sinh nông dân học xong bốn năm đại học thì người cha phải nhịn ăn nhịn mặc 20 năm mới đủ tiền trả học phí. Đã có câu nói "học phí bức tử gia trưởng làm chết học sinh". Một nông dân vào thành phố làm thuê có vợ bị bệnh nặng chữa chạy không khỏi, đã phải ký một hợp đồng với bệnh viện cam kết trả nợ trong 3 đời - 106 năm (mỗi năm 5000NDT)!
Chênh lệnh giàu nghèo ở Trung Quốc. Ảnh: Economists.
Vì nghèo nên con em nông dân bỏ học ngày càng nhiều, nhiều em phải lâm vào cảnh mà báo chí Trung Quốc gọi là "nô công" (công nhân nô lệ) như một số trẻ em làm tại lò gạch tại một địa phương thuộc tỉnh Sơn Tây (mà báo chí Việt Nam đã đưa một phần). Số sinh viên đại học là con em nông dân cũng ngày một giảm. Trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, số lượng nông dân Trung Quốc bị mất ruộng đất ngày một nhiều, tiền được đền bù lại quá thấp (theo tờ Nam phương đô thị báo của Quảng Đông thì một năm chính quyền các cấp đã "bán đất" được 900 tỷ NDT) nên sức chống đối trong nông dân ngày một cao, mỗi năm một tăng (từ bảy, tám vạn cuộc biểu tình đến trăm ngàn cuộc). Đã có học giả Trung Quốc đề cập tới phải làm "cuộc cách mạng ruộng đất lần thứ ba" (lần thứ nhất là cải cái ruộng đất hồi mới giải phóng, lần thứ hai là khoán sản lượng tới hộ) nhằm trả lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân.v.v. Ngay trong thu nhập của nông dân cũng có sự chênh lệch giầu nghèo khá rõ, năm 2005, thu nhập của một nông dân thuộc thôn Hoa Tây tỉnh Giang Tô (thôn được coi là thu nhập cao nhất nước) là 18.820NDT, còn thu nhập của thôn Nam Nê Loan, tỉnh Thiểm Tây (được coi là thấp nhất nước) là 1526 NDT. Có người đã chia thu nhập của nông dân Trung Quốc làm 3 loại: >5000NDT/người/năm là thuộc thế giới thứ nhất; từ 3000-5000NDT là thuộc thế giới thứ hai; <3000NDT là thuộc thế giới thứ ba. Điều trớ trêu là ngay trong một điều luật của Trung Quốc đã chính thức thừa nhận sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị như đã qui định số tiền bồi thường thiệt hại do tai nạn giao thông theo mức sống của dân thành phố và nông dân. Theo điều luật này một nông dân bị chết vì tai nạn giao thông sẽ được đền bù ít hơn một cư dân thành phố bị chết vì tai nạn giao thông tới 12000NDT vào năm 2005 và vào năm 2006 đã là 15000 NDT vì mức sống của người dân thành thị mỗi năm một tăng cao hơn. Một bài báo "chống đối" đề xuất 6 biện pháp để từ từ làm Trung Quốc sụp đổ đã nêu biện pháp thứ ba là  "làm cho nông nghiệp Trung Quốc sụp đổ" viết: Nông dân, nông nghiệp, nông thôn là ba cái chân của xã hội Trung Quốc. Nó đỡ ngôi lầu lớn xã hội Trung Quốc. Hãy để cho nông dân vẫn cứ 21 năm chẳng thu được gì, hãy để cho con em họ dần dần không đi học nổi, không vào đại học nổi, từ từ làm cho mâu thuẫn giữa thành thị và nông thôn ngày càng gay gắt, khi thời cơ chín muồi ba chân sụp đổ, Trung Hoa tất loạn, có thể nhân loạn mà  giành lấy. Nên nhớ rằng khoảng 70% dân số Trung Quốc sống ở nông thôn, giải quyết vấn đề ăn no, mặc ấm, chữa bệnh, học hành cho mấy trăm triệu nông dân đang còn trong cảnh thiếu đói không phải là việc dễ, nói một câu là xong. Tình trạng vùng miền cũng tương tự. Không nói cũng rõ, tại Trung Quốc, vùng ven biển (miền đông) phát triển nhất, vùng giữa (miền trung) phát triển chậm hơn và miền tây phát triển chậm nhất. GDP bình quân của vùng giầu nhất miền đông gấp gần 10 lần vùng nghèo nhất miền tây và hơn vùng miền trung 4 lần. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn. Nếu như bảy, tám năm trước đây một người Trung Quốc có 100 triệu NDT (7,3NDT=1USD) đã được coi là người giàu nhất nước thì năm 2007 nếu có số tiền trên sợ rằng ngay đến xếp thứ 2000 cũng không nổi. Có nguồn tin cho biết người giàu nhất Trung Quốc năm 2006 có 27 tỷ NDT, nhưng năm 2007 ai có số tiền như vậy chỉ đứng thứ 16 trong số những người giàu nhất nước, bởi vì người giàu nhất năm này đã có 130 tỷ NDT (gần 20 tỷ USD). Có người nói Trung Quốc có 300.000 người có thể mua máy bay riêng, hoặc có 230.000 người có từ 1 triệu USD trở lên. Một nguồn tin cho biết có tới trên chín phần mười người giàu Trung Quốc là con em cán bộ cấp cao trong đó có 29 người có tài sàn tổng cộng là hơn 2000 tỷ NDT. Người ta có sự phân loại không thành văn các tầng lớp trong xã hội Trung Quốc sau gần 30 năm cải cách: quan chức lãnh đạo, công vụ viên, thương nhân, xí nghiệp gia, tầng lớp tri thức. Đáng thương nhất vẫn là tầng lớp nông dân, xếp hạng cuối cùng, còn giai cấp công nhân thì xếp thứ tám, chỉ đứng trên nông dân. Tình trạng gíá cả gia tăng mạnh và lạm phát có xu hướng phi mã, càng làm cho đời sống những người thu nhập thấp thêm khó khăn. Có ngườì bình luận xã hội Trung Quốc là "chính trị Triều Tiên hoá; kinh tế Mỹ latinh hoá; giá cả Âu, Mỹ hoá, tiền lương châu Phi hoá" hoặc" số lần và số người chết vì tai nạn hầm mỏ nhất thế giới, số trẻ em thất học và bỏ học lớn nhất thế giới, số quan chức chính quyền lợi dụng của công ăn chơi nhất thế giới" (Bức thư thứ 2 của Uông Triệu Vận). Quan quyền, tiền quyền
Xã hội Trung Quốc hiện nay ngoài các giai cấp đã có,đã xuất hiện những tầng lớp mới như: nhóm người có thế mạnh (gồm những người nắm quyền lực trong tay, người giàu..) - nhóm người dễ bị tổn thương (nguời nghèo, người già không nơi nương tựa, người thất nghiệp...) Trong nhóm người có thế mạnh ngoài "Thái tử đảng" cần chú ý tới sự xuất hiện của "tầng lớp mới" - nhóm người giàu bột phát trong nền kinh tế thị trường, xuất hiện trong xã hội Trung Quốc từ năm 2000, nhưng mãi đến năm 2002, mới được chính thức đề cập tới trong báo cáo chính trị tại ĐH 16 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Họ có nguyện vọng mãnh liệt tham dự vào công việc chính trị và trong tương lai sẽ có ngày càng nhiều những người trong tầng lớp mới có quyền phát ngôn về công việc của quốc gia (trong hội nghị Chính Hiệp họp tháng 3 năm 2008 xuất hiện họ tên của hơn 100 ông/bà chủ xí nghiệp tư doanh và người làm nghề tự do và một đại biểu ĐH17 là tỷ phú).
Ở Trung Quốc hiện nay "quan quyền", "quyền tiền giao dịch" đã là một số danh từ được sử dụng phổ biến. Tầng lớp "quan quyền" là những người thu được lợi ích lớn nhất trong toàn bộ cải cách mở cửa (cần hiểu là "quan quyền" không chỉ là người trực tiếp nắm quyền mà còn bao gồm cả vợ con, họ hàng thân thích cho đến bạn bè của họ,. "Quan quyền" không chỉ gồm quan chức cấp cao mà còn bao gồm các quan chức lớn nhỏ các cấp và con em, họ hàng, bạn bè của họ) Một bài viết về 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc đã tổng kết: "Quyền lực là công cụ và thủ đoạn có hiệu quả nhất để làm giàu nhanh chóng." Dù còn chưa công khai nói ra, nhưng ai cũng biết "Thái tử đảng" (gồm con em cán bộ cấp cao) là tập đoàn lợi ích có thế lực lớn nhất Trung Quốc hiện nay. Ngoài ra còn có các tập đoàn kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật lớn.. có dây mơ rễ má với các quan chức đảng, chính, quân... và với các tập đoàn kinh tế nước ngoài đang ra sức vơ vét tài sản đất nước, bóc lột sức lao động của công nhân, tước đoạt ruộng đất của nông dân v.v.. Đã có cả tầng lớp xã hội đen đang ngấm ngầm hoạt động. Xin đưa ra một số số liệu để cụ hoá tình hình bất công trong  thu nhập của tầng lớp có chức có quyền với những người dân bình thường: Thu nhập bình quân đầu người của người dân Thâm Quyến là 32.650 NDT, nhưng của cán bộ cấp Vụ, Cục là từ 7 triệu đến 10 triệu NDT, của cán bộ cấp tỉnh là từ 8,5 triệu đến 12 triệu NDT. Điều này có nghĩa là tài sản trung bình của một cán bộ cấp Vụ, Cục ở Thâm Quyến gấp khoảng thu nhập trung bình trong 250 năm của một người dân, còn của cán bộ cấp tỉnh là 300 năm.
Vấn đề tham nhũng, hủ bại
Từ những số liệu về chênh lệch thu nhập giữa người dân và cán bộ các cấp có thể hình dung được nạn tham nhũng hối lộ ở Trung Quốc đã đến mức như thế nào. Trong bức thư gửi sau khi thôi giữ chức Uỷ viên Thường vụ Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra kỷ luật của đảng, Ngô Quan Chính đã thừa nhận việc kiểm kê tài sản của cán bộ khi làm thí điểm ở Thượng Hải, Quảng Đông đều không dám công khai vì bọn họ rất giàu, nếu công bố sẽ bị quần chúng truy kích v.v.. Ngoài ra theo thống kê chưa đầy đủ từ năm 2003-2006 mỗi năm các cơ quan đảng chính dùng tiền công chi cho việc ăn chơi, giải trí dao động từ 300tỷ NDT-350tỷ NDT, mỗi năm thay mới và tăng thêm khoảng 500.000-650000 ôtô du lịch, tốn khoảng 200 tỷ NDT; tại một số sân Golf chi phí công chiếm tới 75%-90% v.v.. Trung Quốc coi hủ bại là nguy cơ ảnh hưởng đến sự tồn vong của đảng và chế độ, đã tích cực đề ra nhiều biện pháp nghiêm khắc để ngăn chặn. Trong 5 năm qua (2003-2007) đã xử lý 35 cán bộ cấp tỉnh, bộ (trong đó UV Bộ Chính trị Trần Lương Vũ) và 930 cán bộ cấp vụ, cục về tội này (trước đó đã từng cho cha con UV Bộ Chính trị Trần Hy Đồng vào tù và xử bắn Phó Chủ tịch UBTV Quốc hội Thành Khắc Kiệt vì các tội danh tương tự) nhưng xem ra tình hình vẫn không sáng sủa hơn mà có xu thế mỗi ngày một tăng (những năm 80 chỉ có 2 cán bộ cấp tỉnh, bộ, những năm 90 con số này là 15 và từ 2000-2007 là hơn 70 người bị xử lý) Tâm lý chống đối Tâm lý bất mãn, bức xúc, chống đối trước những nghịch cảnh, trước những bất công của xã hội hoặc sự quản lý kém hiệu lực của chính quyền, sự tham nhũng của những người nắm quyền đã bắt đầu công khai bộc lộ và có xu thế ngày càng mạnh lên. Ngoài sự đấu tranh phe phái không bao giờ hết trong đảng ra, trong nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc đã xuất hiện tầng lớp đảng viên chống lại đường lối cơ bản của đảng, đòi đẩy mạnh cải cách chính trị, đòi xây dựng cái gọi là "chủ nghĩa xã hội dân chủ" như mấy nước Bắc Âu... Trào lưu này bắt nguồn từ Hồ Diệu Bang và đặc biệt là Triệu Tử Dương, những người lãnh đạo cao nhất, công khai khởi xướng, không những không lụi tàn sau khi bị đàn áp mà  còn có xu thế phát triển. Trong nhân dân, tình hình cũng tương tự. Ngoài những biểu tình, chống đối vì nguyên nhân kinh tế ra, những phản kháng chính trị (thư công khai, lên trên kêu oan, tố cáo v.v..) đã bắt đầu có những hoạt động có tính tổ chức (tuy lực lượng chống đối này còn nhỏ yếu, nhưng là hiện tượng mới xuất hiện) Ngày 24 tháng 7 năm 2009, mấy vạn công nhân viên Công ty Gang thép Thông Hoá thuộc Tập đoàn Gang thép Thông Hoá Cát Lâm, doanh nghiệp quốc hữu do tỉnh quản lý do bất mãn trước việc doanh nghiệp tổ chức lại đã tụ tập khiếu nại, không chỉ làm cho nhà máy gang thép lớn có sản lượng 7 triệu tấn/năm này một dạo phải ngừng sản xuất mà còn bắt Trần Quốc Quân, ông chủ được Tập đoàn dân doanh Kiến Long tỉnh Hà Bắc do tăng cổ phần đầu tư mà đến nhà máy định nắm đại quyền, làm con tin, rồi đánh chết tại chỗ. Đây không phải là sự kiện có tính quần chúng bình thường. Ngày 25, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo được sự ủy nhiệm của Bộ Chính trị TW Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phải tới tỉnh Cát Lâm thân tự chỉ đạo xử lý việc này. Tâm lý chống đối còn ở những người chạy ra nước ngoài. Những lực lượng chống đối này hiện nay chưa có sự móc nối với nhau rõ rệt, nhưng khi tình thế có sự thay đổi đột biến, họ rất có thể dễ dàng kết hợp trong ngoài nước, trong đảng và ngoài đảng trở thành lực lượng không thể xem thường.
Sức ép quốc tế
Nhìn chung thế giới khâm phục, kinh ngạc trước những thành tựu mà nhân dân Trung Quốc đã đạt được, nhưng đi kèm theo đó là nỗi lo ngại sự "lớn mạnh" của Trung Quốc. Luận điểm "mối đe doạ Trung Quốc" không phải vô cớ được tung ra. Dù Trung Quốc đã từng sửa khẩu hiệu chiến lược của mình từ "Trung Quốc trỗi dậy" thành "Trung Quốc trỗi dậy hoà bình", "phát triển hòa bình", v.v.. nhưng phần đông các nước láng giềng và trong khu vực đều giữ thái độ cảnh giác, thận trọng trong cư xử với Trung Quốc. Có người Trung Quốc đã cay đắng và cả hằn học nữa thốt lên: "dưới cái mũ lớn "thuyết Trung Quốc đe dọa" còn có nhiều thuyết "đe dọa nhỏ" nữa, nào là mối đe dọa của tỷ suất thấp của đồng NDT, mối đe doạ của an toàn thực phẩm Trung Quốc, mối đe doạ của việc môi trường Trung quốc xấu đi, mối đe doạ do nhu cầu năng lượng của Trung Quốc tăng nhanh, mối đe dọa do Trung Quốc tăng ngân sách quốc phòng v.v. Trung Quốc ừa có chút khí thế trỗi dậy đã bị các cường quốc thế giới kéo nhau lại "tấn công". Trong kỳ họp Quốc hội tháng 3/2008, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc nói: "Áp lực bên ngoài mà nền kinh tế nước ta phải đối mặt rõ ràng lớn hơn các năm trước." Xin nói thêm: quan hệ Trung - Mỹ đã qua thời kỳ trăng mật. Quan hệ Trung - Nhật đã qua giai đoạn đầu tốt đẹp. Quan hệ Trung - Nga là quan hệ của hai đối thủ đã từng biết nhau khá rõ. Trung Quốc không có được đồng minh và láng giềng tốt theo đúng nghĩa. Mặc dù Trung Quốc đã sửa tên gọi chiến lược phát triển của mình từ "Trung Quốc trỗi dậy" thành "trỗi dậy hòa bình" rồi xóa bỏ chữ "trỗi dậy" để chỉ còn là "phát triển hòa bình". Mặc dù Trung Quốc đề ra phương châm với các nước xung quanh là "Láng giềng là hàng đầu", và "làm bạn với láng giềng, hòa thuận với láng giềng, làm yên lòng láng giềng, giầu có cùng láng giềng". Mặc dù Trung Quốc mấy năm gần đây đã tuyên bố "chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp, cùng khai thác, cùng hưởng lợi" trong quan hệ với các nước ở Biển Đông, nhưng người ta vẫn không hoàn toàn yên tâm, vừa quan hệ vừa cảnh giác. Bởi vì ai dám đoan chắc năm, ba năm tới (hay lâu hơn chút nữa), Trung Quốc sẽ làm gì? Ở đâu? Với ai? Mức độ thế nào? Qui mô đến đâu?... ---- Viết về một số tồn tại lớn của Trung Quốc, không hề nhằm mục đích "bới lông tìm vết", hay "nói xấu" người bạn lớn phương Bắc của chúng ta, mà chỉ muốn qua đó giới thiệu với những người có trách nhiệm của đất nước (cả đương nghiệm và người sẽ thay thế) ở Trung ương cũng như địa phương, tại các ngành cũng như các vùng, dù quyền cao chức trọng hay chỉ là những "thơ lại" thời đại mới, hy vọng họ nghiêm chỉnh rút ra được từ tình hình thực tế của Trung Quốc, những bài học bổ ích cho những suy tính, những quyết sách lớn nhỏ.... Biết nghiêm túc học tập những kinh nghiệm chưa thành công của người đi trước, chúng ta sẽ bớt phải trả giá (có khi là rất lớn và lâu dài.) Nhưng nếu không thấy hoặc cố tình không thấy "vết xe của người đi trước", thì cái giá phải trả không chỉ là của một số cá nhân mà sẽ là những người lao động chân chính, là đông đảo nhân dân, là cả dân tộc và những thế hệ tiếp theo. ---- Tài liệu tham khảo chính: - Báo cáo chính trị tại Đại hội 17 Đảng Cộng sản Trung Quốc (bản tiếng Trung lấy trên mạng của Tân Hoa xã) - Báo cáo công tác của Chính phủ Trung Quốc tại kỳ họp Quốc hội tháng 3 năm 2008 (bản tiếng Trung lấy trên mạng của Tân Hoa xã) - Thư công khai của Uông Triệu Vận, thường vụ Chính Hiệp tỉnh An huy Trung Quốc gửi Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo (bức thứ nhất và thứ hai) - Một số bài báo của Trung Quốc đăng trên mạng từ ĐH 17 tới tháng 3 năm 2008,
- Một số bài viết chưa công bố của tác giả về vấn đề có liên quan.
 
 

Coi Chừng Lời Ông Dũng
Vi Anh
Ông Nguyễn tấn Dũng, Thủ Tướng Việt Nam Cộng sản, mới vừa nhắc nhở báo chí phải nhanh nhạy, sắc bén hơn nữa. Ông ta nói điều này trong cuộc gặp đầu năm với báo chí tại Hà Nội -  chớ không phải đọc. Ôngnói không theo bài phát biểu soạn sẵn, mà ứng khẩu có vẻ tâm tình với các nhà báo. Rất đáng nghi ngờ, phải coi chừng. Nếu không, tin thì mắc, nghe sẽ lầm.
Một, khó mà nghĩ Ông Dũng là người "ngồi đồng" do 15 thầy pháp ở Bộ Chánh trị muốn Đông bình Tây định, Bắc ổn Nam an trước Đại Hội Đảng thứ 11 nên kêu mưa hú gió, triệu hồi âm binh. Họ bắt ấn điều khiển Ông Dũng lên đồng khiến Ông Dũng quá say đồng, quá nhập vai nên thần khẩu hại xác phàm. Vì, như mọi người biết dù là một ủy viên Bộ Chánh trị hay Ban Bí Thư Trung Ương hay Trung ương ủy viên Đảng khi công bố một cái gì mới cũng phải cúc cung tận tụy theo đúng từng chữ, từng lời nghị quyết của Bộ Chánh Trị và Ban Bí Thư. Nghị quyết của Bộ và Ban này cân từng chữ, phân từng lời bằng cân tiểu ly khi làm. Trước khi đem ra thi hành các cấp đảng viên phải "học tập, thu hoạch", chớ không phải ai muốn nói gì nghĩ gì thì nghĩ hay nói khơi khơi được. 
Chuyện Ông Dũng làm bộ phớt tỉnh bài diễn văn, độc lập tự khởi, tự nhiên tự tại nói "báo chí cần chủ động thông tin bảo vệ chủ quyền", phải nhanh nhạy, sắc bén hơn nữa trong thông tin về việc bảo vệ chủ quyền đất nước, là một thay đổi 180 độ. Hoàn toàn trái ngược với đường lối kiểm duyệt báo chí cố hữu và "xuyên suốt" của Đảng CS. Một đề tài lâu nay CS cấm kỵ, ai đụng tới Anh Cả Đỏ xâm thực giang sơn gấm vóc VN thì bị trừng phạt không nương tay không lý do gì thay đổi đen thành trắng nhanh như chớp vậy.

Hai, đây có thể là mưu sâu kế độc Trăm Hoa Đua Nở, Trăm Nhà Khai Phóng của Mao trạch Đông. Giả bộ kêu gọi mọi người góp ý, nói lên để kiểm soát tâm can của "đảng viên, cán bộ và quần chúng nhân dân". Để rồi sau đó hốt ổ những người bất mãn, bất đồng chánh kiến và chống đối chế độ. Ông Dũng là thủ tướng chánh phủ cơ quan trực tiếp thi hành. 
Giữa thời Tàu Cộng khống chế Đảng CSVN, một đại sứ quèn là Đại sứ CS Bắc Kinh ở Hà nội mà còn cao ngạo như Thái Thú đã lớn lối dạy cho CS Hà nội một bài học "họp tác thì phát triễn, chống đối thì chết". Trước nguy cơ mất nước, Giữa lúc CS Hà nội không nương tay diệt, những nhà báo trong luồng liều mình uốn mình qua ngỏ hẹp "viếât lách", những bloggers ngoài luồng, những nhà dân chủ liều mình nói lên nguyện vọng cứu nguy quốc gia dân tộc, những ai đụng tới TC là CS Hà nội diệt không nương tay. Nên rất có lý để đặt một dấu chấm hỏi thật lớn sau lời Ông Dũng. 
Ba, không có gì phải lo cho đa số nhà báo ở hải ngoại gốc gác tỵ nạn CS có kinh nghiệm với CS ắt hẳn không tin lời Ông Dũng. Vì những gì CS nói thường xuyên khác với những gì CS làm. Điều đó đã trở thành lý tính thành văn rồi mà TT Nguyễn văn Thiệu là người đã chấp bút thành câu "Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn những gì CS làm".
Nhưng hơi lo cho anh chị em cầm viết trẻ, sanh sau chiến tranh, ăn học ở Mỹ, đa số sách sử về VN ở Mỹ bị ảnh hưởng phản chiến nhiều. Và do môi trường xã hội tự do sống ở Mỹ quá tự do nên dễ có nếp suy nghĩ tưởng đâu tự do đương nhiên có. Nhưng cũng chả sao, còn có độc giả tỵ nạn CS vừa là đối tượng vừa là chủ thể của báo chí tiếng Việt hải ngoại, sẽ đóng vai trò giám sát và cân bằng trong cộng đồng VN hải ngoại. Ô. Dũng quyền uy trong chế độ CS nhưng chẳng là "cái thá" gì ở VN hải ngoại. Báo chí tiếng Việt ở VN hải ngoại đã mạnh dạn chốâng TC đã xâm lăng lẫn VC đã nhu nhược cúi đầu cho TC hoành hành và hèn hạ đi trấn áp người dân Việt yêu nước chống TC.
Còn anh chị em nhà báo trong nước đang đau quê cha đất tổ bị xâm lấn, nhục cái nhục dòng giống Lạc Hồng bị Hán tộc khinh khi ngay trên quê mẹ của mình. Anh chị em đó lâu nay vì lương tâm Con Người, lương tâm Việt Nam và lương tâm chức nghiệp dù sống trong kềm kẹp vật chất và tinh thần của Đảng Nhà Nước CS Hà nội, lâu nay đã tương kế tự kế, uốn mình qua ngỏ hẹp, đánh dộng lương tâm người dân về chủ quyền quốc gia dân tộc. Với tình yêu Tổ Quốc đang sôi sục như vậy dễ bị lợi dụng bởi lời Ông Dũng thành trăm hoa đua nở, khiến CS có "chứng lý thật thà khai báo" để hốt trọn ổ.
Bốn, tuy còn sớm nhưng có nhiều dấu chỉ đáng mừng. Những người Việt yêu nước, những nhà báo yêu nước ở trong nước không bị lọt kế của Đảng CSVN nói chung và ÔngDũng nói riêng.  Nên qua phóng sự có âm chứng của phóng viên Nam Nguyên của Đài Á Châu Tự do phát ngày 24-2-10, người ta thấy nhà báo trong nước không tin Ông Dũng.Tiêu biểu như Phó Tổng Biên Tập Nguyễn Trung Dân của Báo Du Lịch là người bị rút thẻ nhà báo, đình chỉ công tác, mấy chục biên tập viên, phóng viên và nhân viên tòa soạn mất việc làm, chỉ vì báo này đã đăng hai bài báo liên quan đến việc Tàu xâm lấn VN. Trong đó có bài 'Tản mạn đảo xa' của phóng viên Trung Bảo, "nói lên  tâm tình của người viết, đề cao lòng yêu nước của thanh niên sinh viên TP.HCM trong cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam". Nhà báo chuyên nghiệp này nói,  "không nhất thiết phải chờ ông Thủ Tướng bật đèn xanh rồi mới nói". Nguyễn Quốc Thái nguyên trợ lý Phó tổng biên tập báo Du Lịch, ông nói: "Báo Du Lịch chúng tôi làm lúc đó là hành động theo sự thúc bách của trái tim và lương tâm của mình.”
Năm và sau cùng quan trọng nhứt, hành động chánh trị không bao giờ là chuyện bốc đồng, tùy hứng. Hỏi làm sao tin được lời Oâng Dũng nhắc nhở báo chí chủ động trong thông tin về chủ quyền đất nước khi việc cấm báo chí nói về TC xâm lấn là qui nguyên tắc, buộc báo chí đi "lề phải" là qui luật hằng cữu của toàn Đảng CS. 
Đừng nói Ông Dũng đứng hàng thứ ba trong Bộ Chánh trị, ngay Ô. Mạnh đứng hàng đầu cũng không có quyền thay đổi qui luật nhanh và nhiều như vậy. Vậy thì lời Oâng Dũng chỉ có thể coi , một là lời nói bốc đồng, hứng ẩu như lời của Ông Nguyễn minh Triết đi Cuba coi CS Hà nội và Cuba hai con tép riu mà tưởng mình như cái rún của vũ trụ khi tuyên bố Cuba thức thì VN ngủ, VN ngủ thì Cuba thức để canh giữ hòa bình thế giới. Lý luận này ít căn cơ hơn cái thứ hai. Đây là mưu sâu kế độc Trăm Hoa Đua Nở của Mao Trạch Đông mà tình báo TC đã gà bài Ô Dũng để hốt trọn ổ những người Việt yêu nước chống TC.
 VI ANH

Khối 8406 Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006


Khối 8406

Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006
Tuyên bố  của Khối 8406
nhân dịp kỷ  niệm 4 năm ngày thành lập
(8/4/2006 – 8/4/2010). 

      
Kính gửi:
‒ Toàn thể  đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước.
‒ Các quốc hội và chính phủ dân chủ, các tổ chức nhân quyền và cộng đồng thế giới tiến bộ.
      Khối 8406 được thành lập vào ngày 8-4-2006, là ngày mà  bản Tuyên Ngôn Tự Do Dân Chủ Cho Việt Nam 2006 (gọi tắt Tuyên ngôn 8406) được phổ biến rộng rãi. Với số thành viên ban đầu là 118 người dân trong nước, chỉ một thời gian ngắn sau đó, Khối 8406 đã nhận được sự ủng hộ và tham gia mạnh mẽ của hàng ngàn, rồi hàng chục ngàn đồng bào Việt Nam ở quốc nội lẫn hải ngoại.
      Đồng thời, nhiều nhà hoạt động chính trị, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, nhiều tổ chức phi chính phủ và công dân bình thường thuộc nhiều quốc gia trên thế giới như: Anh, Ba Lan, Đức, Gia Nã Đại, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Pháp, Tiệp Khắc, Úc… cũng đã nhiệt liệt chào mừng và ủng hộ tinh thần lẫn nội dung bản Tuyên ngôn 8406; ca ngợi lòng dũng cảm của các thành viên Khối 8406 đã dám vượt qua mọi nỗi sợ hãi, quyết đứng lên đương đầu trực diện với chế độ độc tài toàn trị ở Việt Nam, nhằm đấu tranh giành lại các quyền tự do dân chủ thực sự cho dân tộc.
      Trong lá Thư Ngỏ ngày 23-5-2006 của các nhân sĩ, trí thức, chính trị gia,… thuộc nhóm Hiến Chương 77 Tiệp Khắc, gửi đi từ thủ đô Praha cho Khối 8406, có đoạn viết: "Chúng tôi đã được biết đến "Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006" của các bạn. Chúng tôi rất trân trọng sự can đảm của các bạn trong hoàn cảnh chính trị tương tự như ở nước chúng tôi năm 1977, khi văn kiện cơ sở của Hiến Chương 77 được công bố. Chúng tôi biết rằng các bạn đang phải hứng chịu nguy cơ bị các cơ quan chính quyền truy nã, và chúng tôi hy vọng rằng mỗi biểu hiện đoàn kết sẽ là sự khích lệ và tăng cường sức mạnh cho các bạn. (…) Chúng tôi không thờ ơ trước vận mệnh đất nước Việt Nam. Chúng tôi tin rằng tiếng nói của các bạn sẽ không bị bóp nghẹt. Cho dù về mặt hình thức thì Hiến Chương 77 đã ngừng hoạt động sau tháng 11-1989, nhưng chúng tôi rất lấy làm vui mừng được bày tỏ sự ủng hộ đối với các bạn trên tư cách những cá nhân. Chúng tôi xin chúc cho nỗ lực của các bạn sẽ dẫn đến việc thiết lập nền tự do trong khoảng thời gian ngắn hơn là chúng tôi đã đạt được trong phong trào Hiến Chương 77…"
      Trong lá thư gửi ngày 30-5-2006 từ thủ đô Washington, do 50 vị dân biểu Hoa Kỳ cùng ký tên có  đoạn: "…Chúng tôi hy vọng lá thư này sẽ nhắc nhở cho những ai có ý đồ muốn bóp nghẹt những tiếng nói đòi tự do hoặc toan tính đe dọa hay đàn áp những người dân đã bày tỏ quan điểm của họ một cách bất bạo động là: mọi sự vi phạm nhân quyền sẽ mâu thuẫn với một hình ảnh ổn định và tiến bộ mà chính quyền Việt Nam đang muốn có. Đây là điều toàn thể thế giới đang theo dõi. Với tất cả những ai đang sống tại Việt Nam đã ký tên vào những văn kiện lịch sử này, sự can đảm và quyết tâm của quý vị để bảo vệ tự do của con người bằng phương pháp bất bạo động là tấm gương sáng cho đồng bào cả nước, cho chính chúng tôi và cho toàn thế giới. Chúng tôi cam kết sẽ sát cánh cùng quý vị trong cuộc đấu tranh này…"
      Cũng với một tinh thần đó, ngày 6-12-2006, tại phòng họp Quốc hội Liên bang ở thủ đô Canberra đã có  36 Dân biểu và Thượng Nghị sĩ Australia cùng ký tên vào một bức thư chung như sau: "...Chúng tôi ký tên dưới đây là những Dân biểu và Thượng nghị sĩ Australia muốn bày tỏ sự ủng hộ và ngưỡng mộ của chúng tôi đối với 118 công dân Việt Nam can đảm, được biết dưới tên Khối 8406 đã đồng ký tên vào bản Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam, ngày 8-4-2006 để kêu gọi cuộc vận động ôn hòa cho một tiến trình dân chủ hóa và đa đảng ở Việt Nam. (...) Sự góp mặt của phong trào dân chủ này chứng tỏ rằng khát vọng cho tự do và dân chủ là quy luật phổ quát cho tất cả các Dân tộc trên thế giới và phù hợp với những nguyên tắc được Quốc hội Australia tôn trọng. Là những đại diện được dân chúng bầu lên trong một nền dân chủ, chúng tôi có bổn phận phải lên tiếng thay cho những người mà tự do dân chủ của họ bị tước đoạt. Chúng tôi kêu gọi chính phủ nước CHXHCN Việt Nam hãy lắng nghe tiếng nói của Dân tộc mình và hãy có những bước tiến thích hợp để thay đổi và hướng về một xã hội tự do dân chủ, hội nhập hoàn toàn vào cộng đồng Quốc tế và thị trường toàn cầu. Thế giới đang theo dõi những gì đang diễn ra ở Việt Nam...".
      Nhân dịp kỷ niệm 4 năm ngày thành lập Khối 8406 (8/4/2006 – 8/4/2010), chúng tôi một lần nữa xin chân thành cảm  ơn mọi sự ủng hộ, giúp đỡ đầy nhiệt tình và hiệu quả của đồng bào Việt Nam trong lẫn ngoài nước; của bạn bè quốc tế khắp 5 châu đối với Khối 8406 nói riêng và phong trào dân chủ Việt Nam nói chung, trong những năm qua. Chúng tôi nguyện sẽ luôn luôn xứng đáng với lòng tin yêu đó của mọi người và khẳng định rằng: cho dù chặng đường trước mặt còn phải trải qua khó khăn, gian khổ khốc liệt đến mấy, chúng tôi vẫn tiếp tục dấn thân, quyết cùng với dân tộc và thế giới tiến bộ đấu tranh giành lại các quyền tự do dân chủ thực sự cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu!
      Cũng nhân dịp này, Khối 8406 xin tuyên bố với đồng bào Việt Nam và cộng đồng thế giới như sau:
      1) Trung thành tuyệt đối với tinh thần và  nội dung Tuyên ngôn 8406 qua các  điểm:
      Mục tiêu đấu tranh là thay thế triệt để thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, phi dân chủ, phản dân tộc, không chấp nhận sự cạnh tranh của các chính đảng khác trên chính trường hiện nay bằng thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng và pháp trị tiến bộ.
      - Phương pháp đấu tranh là mọi phương pháp mà các cá nhân, tập thể, tổ chức bất bạo động đã sử dụng kiến hiệu từ lâu nay trên thế giới, đặc biệt nơi thánh Gandhi, luật sư Martin Luther King, phong trào dân chủ tại Đông Âu các năm 1989-1991 và phong trào dân chủ tại Việt Nam hiện giờ.
      Lực lượng của cuộc đấu tranh là đại bộ phận dân tộc Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước, bao gồm mọi giới : trí thức, viên chức, văn nghệ sĩ, thương nhân, công nhân, nông dân, cựu chiến binh, sinh viên, học sinh… và cả 2 lực lượng quân đội lẫn công an mà hiện nay cũng thuộc tầng lớp bị trị. Ngoài ra còn có cộng đồng thế giới dân chủ tiến bộ. Tất cả làm thành sự kết hợp chặt chẽ, hữu cơ giữa sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.
      Động lực đồng thời là khối tiên phong của cuộc đấu tranh là tầng lớp sĩ phu chân chính trong giới trí thức và giới tu hành vốn không chịu thờ ơ, vô cảm trước khổ đau của đồng bào và đồng loại để chỉ chăm lo cho bản thân hay cộng đồng mình.
      Đối tượng của cuộc đấu tranh là các thế lực độc tài, phản dân chủ đang nắm thực quyền trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay và những thành phần cấu kết với họ để chia chác quyền lực và quyền lợi. Thế lực này đang thiết lập và duy trì ách thống trị của họ một cách hết sức bất lương và tàn ác lên đầu lên cổ dân tộc, đang vì quyền lợi ích kỷ của tập đoàn mình mà chà đạp thô bạo quyền lợi chính đáng của tuyệt đại đa số nhân dân! Chính họ đang bất chấp sự tụt hậu của quốc gia, sự suy vong của giống nòi mà phớt lờ ý chí và nguyện vọng cháy bỏng của dân tộc Việt Nam hôm nay là thực sự dân chủ hoá đất nước! Vì vậy, trong lòng dân tộc hiện thời, đang có mâu thuẫn lớn lao và cơ bản giữa giai cấp thống trị thiểu số cực kỳ tham lam, tàn ác, sống xa hoa phè phỡn, với giai cấp bị trị chiếm đại đa số đang sống rên xiết lầm than như nô lệ.
      Ý nghĩa của cuộc đấu tranh là chính nghĩa nhất định thắng phi nghĩa, tiến bộ nhất định thắng lạc hậu và chí nhân nhất định thắng bạo tàn!
      2) Khẳng định dựa trên tất cả  những gì đã và đang diễn ra, rằng:
      Dứt khoát không thể xây dựng một Việt Nam dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh trong tình trạng vẫn còn tồn tại chế độ độc tài, độc đảng và toàn trị hiện nay! Chế độ này không thể gìn giữ đạo đức xã hội đang ngày càng xuống cấp, không thể chống được quốc nạn tham nhũng đang ngày càng hoành hành, không thể bảo vệ sự an toàn của mỗi công dân và mỗi gia đình đang ngày càng bị xâm phạm, không thể bảo toàn nền an ninh quốc gia đang ngày càng bị đe dọa…
      Nguy hiểm hơn, chế độ ấy đang đẩy dân tộc ta vào một nguy cơ mất nước kiểu mới đến từ kẻ thù truyền kiếp phương Bắc. Về vấn đề này, Khối 8406 chúng tôi nhận định rằng: Trong điều kiện, hoàn cảnh quốc tế ngày nay, việc Trung Quốc đem quân xâm lược toàn bộ Việt Nam có khả năng rất thấp. Thế nhưng, việc Trung Quốc tìm mọi cách mua chuộc và khống chế một số thành phần lãnh đạo trọng yếu trong bộ máy cầm quyền Hà Nội, để số này răm rắp phục tùng chiếc gậy chỉ huy của Bắc Kinh là điều hoàn toàn có thể và khả năng này rất cao. Thực chất, đây là cách dùng người Việt cai trị người Việt theo kiểu thái thú mà không cần xâm lược bằng quân sự theo kiểu cổ điển. Nói cách khác, đây là thủ đoạn "Polpot hoá", "Khơme đỏ hoá" Việt Nam, mà Trung Quốc từng sử dụng tại nước gọi là "Campuchia dân chủ" trong giai đoạn 1975–1979, đẩy dân tộc hiền hòa này vào thảm họa diệt chủng kinh hoàng.
      Những biểu hiện của chủ trương đó là Trung Quốc  đã chiếm đoạt hàng ngàn km2 lãnh thổ biên giới và hàng chục ngàn km2 lãnh hải biển Đông; đã nhiều phen ngang nhiên cấm cản hay bắn thẳng vào ngư dân Việt Nam khi họ ra khơi đánh cá trong lãnh hải Tổ quốc; đã trúng thầu dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên và hàng trăm dự án xây nhà máy, xây xa lộ trên khắp cả nước; đã được "thuê miễn phí" 50 năm hàng trăm ngàn hécta rừng quốc phòng, rừng phòng hộ từ Bắc chí Nam; đã thiếp lập nhiều khu cư dân Trung Quốc bất khả xâm phạm tại nhiều tỉnh thành; đã du nhập ồ ạt vào Việt Nam vô số sản phẩm tàn hại nền văn hóa và kinh tế quốc gia cũng như tai hại cho sức khỏe đồng bào… Tất cả đều có sự dung túng, nhượng bộ, đi đêm hay đồng lõa của đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, mọi ý kiến cảnh báo nguy cơ Bắc triều, mọi hành động phản đối lân bang xâm lược đều đã bị Hà Nội coi khinh hay đàn áp.  
      3) Đòi hỏi Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam
      + Tôn trọng các quyền tự do của mọi công dân, tôn trọng quyền tự quyết của toàn thể Dân tộc.
      + Thả khỏi tù ngay tức khắc và vô điều kiện tất cả những công dân yêu nước vì đấu tranh cho tự do dân chủ mà phải bị tống ngục. (Danh sách chưa đầy đủ được đăng ở phần Phụ lục, đính kèm với bản Tuyên bố này.)
      + Chấm dứt ngay mọi hành động vi phạm nghiêm trọng quyền con người, vi phạm chính Hiến pháp, luật pháp của CHXHCN Việt Nam đối với những người đấu tranh dân chủ như: theo dõi canh gác, quản chế tại gia, buộc đi thẩm vấn, nghe trộm điện thoại, đọc trộm bưu thư điện thư, cắt điện thoại và internet; nhục mạ khi tiếp xúc, vu cáo trên phương tiện truyền thông; khám tư gia, tịch thu tài sản, xử phạt hành chính; đuổi việc, bao vây kinh tế, sách nhiễu thân nhân; sử dụng côn đồ hành hung, ném chất bẩn vào nhà; ngăn cản những người đấu tranh dân chủ trong lẫn ngoài nước gặp gỡ nhau; tạm giam trái phép, xét xử và kết án nhiều năm tù với những tội danh vu vơ, ngụy tạo, v.v… Tất cả những hành động xấu xa, bỉ ổi này của công an và tòa án Việt Nam, dưới sự điều khiển của đảng cộng sản địa phương hoặc trung ương, đều được khoác lên cụm mỹ từ "bảo vệ an ninh quốc gia và ổn định trật tự xã hội!". 
      4) Nhiệt liệt chào mừng sự  trở lại với xã hội bình thường, trong tự do hạn chế, của 2 thành viên ưu tú thuộc Khối 8406 là linh mục Nguyễn Văn Lý và luật sư Lê Thị Công Nhân. Đồng thời thiết tha tưởng nhớ hàng chục thành viên khác đang hy sinh cho đại cuộc trong lao tù cộng sản.
      5) Chân thành cảm ơn và  hoàn toàn ủng hộ vô  số nỗ lực của  đồng bào lẫn thân hữu quốc tế nhằm hỗ trợ cho các tù nhân lương tâm, nhất là những bản tuyên bố mới đây của các tổ chức: Văn Bút Quốc tế, Ân Xá Quốc Tế, Cao Trào Nhân Bản và một số Cộng đồng người Việt hải ngoại về việc đòi trả tự do hoàn toàn, vĩnh viễn cho linh mục Nguyễn Văn Lý và chấm dứt ngay việc quản chế, xách nhiễu đối với luật sư Lê Thị Công Nhân.
      6) Hết lòng ca ngợi đức dũng cảm, chí  bất khuất, sự mưu trí  và tinh thần bền bỉ đấu tranh bất chấp khó khăn, nguy hiểm… của mọi thành viên Khối 8406 trong lẫn ngoài nước. Sự hy sinh của quý Anh Chị Em là vô cùng quý giá và rất đáng trân trọng, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển của Khối 8406 nói riêng và phong trào dân chủ Việt Nam nói chung.
      7) Nhân việc tái phát động trong dịp này chiến dịch "MẶC ÁO TRẮNG VÀO NGÀY MỒNG 01 VÀ  15 MỖI THÁNG, ĐỂ ỦNG HỘ  DÂN CHỦ TẠI VIỆT NAM",  chúng tôi xin kêu gọi toàn thể đồng bào trong lẫn ngoài nước vui lòng hưởng ứng mạnh mẽ, và các trang mạng đấu tranh vui lòng phổ biến rộng rãi chiến dịch đó. Sau cùng, chúng tôi kêu mời cộng đồng thế giới tiến bộ hãy cùng đồng tâm hiệp sức với chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp dân chủ hóa Việt Nam cho đến ngày giành được thắng lợi hoàn toàn!

      Làm tại Việt Nam ngày 3 tháng 4 năm 2010.
      Ban Đại diện lâm thời Khối 8406:

1. Kỹ  sư Đỗ Nam Hải - 441 Nguyễn Kiệm, P. 9, Q. Phú  Nhuận, Sài Gòn, Việt Nam.
2. Linh mục Phan Văn Lợi - 16/46 Trần Phú, Thành phố  Huế, Việt Nam.
3. Linh mục Nguyễn Văn Lý - đang bị quản thúc tại 64 Phan Đình Phùng (Nhà Chung), Tp Huế.
4. Giáo sư Nguyễn Chính Kết - đang vận  động dân chủ tại hải ngoại.

      Trong sự hiệp thông với cựu quân nhân Trần Anh Kim, nhà  văn Nguyễn Xuân Nghĩa và  nhiều tù nhân chính trị, tôn giáo khác đang ở trong lao tù cộng sản.

Phần  phụ lục

1- Tuyên ngôn Tự do Dân chủ cho Việt Nam 2006
của 118 Nhà Đấu tranh Dân chủ quốc nội Việt Nam
 
 Việt Nam, 8-4-2006
      Kính gửi Đồng bào Việt Nam ở trong và ngoài Nước,
      Chúng tôi, ký tên dưới đây, đại diện cho hàng trăm nhà đấu tranh Dân chủ ở quốc nội và tất cả mọi người Dân nào đang khao khát một nền Dân chủ chân chính cho Quê hương Việt Nam hôm nay, đồng thanh lên tiếng :
      I. Thực trạng của Việt Nam
      1- Trong cuộc Cách mạng tháng 8-1945, sự lựa chọn của toàn Dân tộc ta là Độc lập Dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội. Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 chẳng nhắc đến một từ nào về chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa Cộng sản cả. Hai nguyên nhân chính làm nên thắng lợi của cuộc Cách mạng ấy là Khát vọng Độc lập Dân tộc vàKhoảng trống quyền lực lúc bấy giờ ở Việt Nam (thực dân Pháp đã bị quân Nhật đảo chính cướp quyền từ ngày 9-3-1945 và quân Nhật đã đầu hàng phe Đồng minh ngày 15-8-1945).
      Rõ  ràng mục tiêu của cuộc cách mạng ấy đã bị  đảng Cộng sản VN đánh tráo. Và dĩ nhiên, Quyền Dân tộc tự quyết cũng hoàn toàn bị thủ tiêu. Đã có ít nhất 2 cơ hội lịch sử rất thuận lợi là năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước, để Dân tộc khẳng địnhQuyền tự quyết của mình. Nhưng tất cả đều đã bị đảng Cộng sản VN tráo trở không thực hiện. Vì một khi nền chuyên chính vô sản đã được thiết lập, thì theo Lênin, chức năng đầu tiên của nó chính là : bạo lực và khủng bố trấn áp !
      2- Tiếp đến, ngày 2-9-1945 tại Hà Nội, ông Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã trịnh trọng tuyên bố với Dân tộc và với Thế giới rằng : "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được ; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời nói bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập nǎm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là : mọi Dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp nǎm 1791 cũng nói : "Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi ; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi". Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được…" (trích Tuyên ngôn Độc lập 2-9-1945).
      Thế  nhưng, tất cả những quyền thiêng liêng ấy của Dân tộc đều bị  chà đạp thô bạo ngay sau đó, khi mà chính quyền Cộng sản  được dựng lên.
      3- Đến tháng 2-1951 Tuyên ngôn của đảng Lao động Việt Nam (nay là đảng Cộng sản Việt Nam) kỳ đại hội lần thứ 2, đã viết: "Chủ nghĩa của Đảng là chủ nghĩa Mác–Lênin". Và trong Điều lệ, phần Mục đích và Tôn chỉ còn khẳng định rõ ràng hơn : "Đảng Lao động Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Ǎngghen - Lênin - Xtalin và tư tưởng Mao Trạch Đông, kết hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng…".
      Kể  từ đó, nhất là ở miền Bắc sau năm 1954, rồi cả nước sau ngày 30-4-1975, bóng ma của chủ nghĩa Cộng sản đã luôn đè ám lên đầu, lên cổ toàn Dân Việt Nam. Chính cái bóng ma ấy chứ không phải là cái gì khác đã triệt tiêu hầu hết những quyền con người của Nhân dân Việt Nam. Và hôm nay, nó vẫn đang tạm đô hộ, chiếm đóng lên cả 2 mặt tinh thần và thể chất của toàn Dân tộc Việt Nam.
      II. Qui luật phổ biến toàn cầu
      1- Lịch sử đã minh định rằng mọi quyền tự do, dân chủ ở bất cứ một chế độ độc đảng toàn trị nào, dù Cộng sản hay không Cộng sản, cũng đều bị chà đạp không thương tiếc, chỉ khác nhau ở mức độ mà thôi. Bất hạnh thay là cho đến nay, Dân tộc Việt Nam vẫn thuộc về một trong số ít các Quốc gia trên thế giới còn bị cai trị bởi chế độ độc đảng toàn trị Cộng sản. Điều này thể hiện cụ thể tại Điều 4 của Hiến pháp Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa VN hiện hành, rằng : "Đảng Cộng sản Việt Nam... theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội." Chính vì điều này mà các quyền tự do, dân chủ của Nhân dân đã hoàn toàn bị triệt tiêu, may ra chỉ còn vài mẩu vụn mà thôi !
      2- Chính hệ thống quyền lực không hề chấp nhận cạnh tranh và không hề chấp nhận bị thay thế này đã thúc đẩy mạnh mẽ đà thoái hoá, biến chất của toàn bộ hệ thống ấy. Vì chẳng có qui luật và nguyên tắc cạnh tranh công bằng nào trên chính trường, nên sau những kỳ bầu cử, toàn Dân không thể chọn được những con người và những lực lượng chính trị xứng đáng nhất. Bộ máy lãnh đạo, quản lý và điều hành do vậy ngày càng hư hỏng, rệu rã từ trung ương xuống cơ sở địa phương. Hậu quả là Việt Nam hôm nay trở thành Quốc gia bị tụt hậu quá xa so với các Nước trong khu vực và thế giới. Quốc nhục này và các quốc nạn khác khó bề tẩy xóa. Vấn đề của mọi vấn đề, nguyên nhân của mọi nguyên nhân chính vì đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Đất nước ! Thực tiễn đã xác minh rằng bất kỳ Nước nào đã bị rơi vào quỹ đạo của chủ nghĩa Cộng sản thì đều điêu tàn thê thảm cả. Liên Xô, cái nôi Cộng sản, cùng với các Nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu khác, đã dũng cảm vượt qua chính mình để quay lại tìm đường đi đúng cho Dân tộc họ.
      3- Chúng ta đều hiểu rằng : không ai có thể sửa được lịch sử, nhưng có thể bẻ chiều lịch sử. Và điều quan trọng hơn là qua những bài học của lịch sử, định hướng tốt cho tương lai. Con đường hôm qua của Dân tộc ta đã bị những người Cộng sản Việt Nam chọn một cách vội vàng, thiếu chín chắn và áp đặt cho cả Dân tộc một cách khiên cưỡng. Con đường ấy thực tế đã chứng minh là hoàn toàn sai lạc. Vì vậy Dân tộc ta hôm nay phải chọn lại con đường cho mình. Và chắc chắn cả Dân tộc cùng chọn sẽ tốt hơn một người hay một nhóm người nào đó. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chỉ là một bộ phận của Dân tộc, nên không thể mạo danh Dân tộc để chọn thay ! Trước Dân tộc và lịch sử suốt hơn nửa thế kỷ qua (1954–2006), Đảng cầm quyền ấy đã tiếm danh chứ không chính danhchút nào ! Bởi lẽ các cuộc bầu cử thực sự tự do hoàn toàn vắng bóng ở Việt Nam.
      Từ thực trạng và qui luật trên đây, với ý thức trách nhiệm của Công dân trước vận mệnh Đất nước, chúng tôi xin được phép giãi bày cùng toàn thể Đồng bào VN trong và ngoài Nước :
      III. Mục tiêu, phương pháp và  ý nghĩa cuộc đấu tranh
      1- Mục tiêu cao nhất trong cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ cho Dân tộc hôm nay là làm cho thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay phải bị thay thế triệt để, chứ không phải được "đổi mới" từng phần hay điều chỉnh vặt vãnh như đang xảy ra. Cụ thể là phải chuyển từ thể chế chính trị nhất nguyên, độc đảng, không có cạnh tranh trên chính trường hiện nay, sang thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, có cạnh tranh lành mạnh, phù hợp với những đòi hỏi chính đáng của Đất nước, trong đó hệ thống tam quyền Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp phải được phân lập rõ ràng, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế và trải nghiệm của Nhân loại qua những nền dân chủ đắt giá và đầy thành tựu.
      Mục tiêu cụ thể là thiết lập lại các quyền cơ bản của toàn Dân sau đây
      - Quyền Tự do Thông tin Ngôn luận theo Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hiệp Quốc được biểu quyết ngày 16-12-1966, VN xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 19,2: "Mọi người có quyền tự do ngôn luận, quyền nầy bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức truyền miệng, bằng bản viết, bản in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật hoặc thông qua bất cứ phương tiện truyền thông đại chúng khác tuỳ theo sự lựa chọn của mình". Nghĩa là các đảng phái, tổ chức, cá nhân có quyền thông tin ngôn luận qua báo chí, phát thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông đại chúng khác mà không cần đợi phép của nhà cầm quyền.
      - Quyền Tự do hội họp, lập hội, lập  đảng, bầu cử và ứng cử theo Công ước Quốc tếvề các Quyền Dân sự và Chính trị, điều 25 : "Mọi Công dân… đều có quyền và cơ hội để (a) tham gia vào việc điều hành các công việc xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua những đại diện được họ tự do lựa chọn"; (b) bầu cử và ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực, bằng phổ thông đầu phiếu, bình đẳng và bỏ phiếu kín nhằm đảm bảo cho cử tri tự do bày tỏ ý nguyện của mình". Nghĩa là các đảng phái thuộc mọi khuynh hướng cùng nhau cạnh tranh lành mạnh trong một nền dân chủ đa nguyên, đa đảng chân chính.
      Quyền Tự do Hoạt động Công đoàn độc lập và Quyền Đình công chính đáng theoCông ước Quốc tế về các quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, được LHQ biểu quyết ngày 16-12-1966, VN xin tham gia ngày 24-9-1982, điều 7 và 8 "Các Quốc gia thành viên của Công ước công nhận quyền của mọi người được hưởng những điều kiện làm việc công bằng và thuận lợi…, quyền của mọi người được thành lập và gia nhập Công đoàn mà mình lựa chọn, chỉ phải tuân theo quy chế của Tổ chức đó để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình… (với) quyền đình công…"Các công đoàn này phải là những tổ chức duy nhất hoạt động độc lập, không có những loại Công đoàn tay sai của nhà cầm quyền.
      - Quyền Tự do Tôn giáo theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị,điều 18 : "Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền tự do này bao gồm tự do có hoặc theo một Tôn giáo hoặc Tín ngưỡng do mình lựa chọn, tự do bày tỏ Tín ngưỡng hoặc Tôn giáo một mình hoặc trong tập thể với nhiều người khác, một cách công khai hoặc thầm kín dưới hình thức thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền đạo". Các Tôn giáo này phải hoạt động độc lập, chứ không thể bị biến thành công cụ cho nhà cầm quyền.
      2- Phương pháp của cuộc đấu tranh này là hòa bình, bất bạo động. Và chính Dân tộc Việt Nam chủ động thực hiện cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, chúng ta rất cảm ơn sự ủng hộ nhiệt tình và ngày càng hiệu quả của tất cả những bạn bè trên thế giới. Thông qua những phương tiện thông tin hiện đại và qua sự giao lưu quốc tế ngày càng rộng mở, chúng ta sẽ tìm mọi cách giúp Đồng bào kiện toàn nhận thức. Và một khi Nhân dân đãcó nhận thức đúng và rõ thì nhất định sẽ biết hành động thích hợp và hiệu quả.
      3- Ý nghĩa của cuộc đấu tranh này là làm cho chính nghĩa thắng phi nghĩa, tiến bộ thắng lạc hậu, các lực lượng dân tộc đang vận dụng đúng quy luật của cuộc sống và xu thế của thời đại thắng những tà lực đang tìm cách đi ngược lại những xu thế và quy luật ấy. Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn đồng hành cùng Dân tộc hay không là tùy ở mức độ đảng ấy có khách quan, công bằng, sáng suốt và khiêm tốn chấp nhận các nguyên tắc bình đẳng của cuộc cạnh tranh lành mạnh hay không, chỉ có thể chế chính trị độc đảng ấy là dứt khoát phải bị chôn táng vĩnh viễn vào quá khứ. Từ đó, Dân tộc sẽ tìm được những con người tốt nhất, những lực lượng chính trị giỏi nhất sau mỗi kỳ bầu cử để lãnh đạo Đất nước. Nguyên tắc "lẽ phải toàn thắng" sẽ được thiết lập và cuộc sống cá nhân sẽ trở nên tốt hơn, xã hội sẽ trở nên nhân bản hơn và Đồng bào sẽ sống với nhau thân thiện hơn.
      Chúng tôi mong ước Tuyên ngôn này thúc đẩy được sự đóng góp tích cực của Đồng bào trong ngoài Nước và sự ủng hộ của Bạn bè Quốc tế. Chúng tôi chân thành cảm ơn và kêu gọi các Cơ quan Liên Hiệp Quốc, các Quốc hội, Chính phủ, Tổ chức Quốc tế và Bạn bè trên toàn thế giới tiếp tục ủng hộ cách nhiệt tình và hiệu quả cho cuộc đấu tranh đầy chính nghĩa này, góp phần đưa Tổ quốc Việt Nam sớm sánh vai cùng các Nước văn minh, đạo đức, thịnh vượng, tự do trong cộng đồng Nhân loại hôm nay.
      Đồng tuyên bố tại Việt Nam ngày 08 tháng 4 năm 2006
      1- Bs Nguyễn Xuân An, Huế. 2- Gv Đặng Hoài Anh, Huế. 3- Gv Đặng Văn Anh, Huế. 4- Bs. Lê Hoài Anh, Nha Trang. 5- Gs Nguyễn Kim Anh, Huế. 6- Gs Nguyễn Ngọc Anh, Đà Nẵng. 7- Nv Trịnh Cảnh, Vũng Tàu. 8- Lm F.X. Lê Văn Cao, Huế. 9- Gv Lê Cẩn, Huế. 10- Lm Giuse Hoàng Cẩn, Huế. 11- Gv Trần Thị Minh Cầm, Huế. 12- Lm Giuse Nguyễn Văn Chánh, Huế. 13- Gv Nguyễn Thị Linh Chi, Cần Thơ. 14- Gs Hoàng Minh Chính, Hà Nội. 15- Gv Nguyễn Viết Cử, Quảng Ngãi. 16- Ths Đặng Quốc Cường, Huế. 17- Nv Nguyễn Đắc Cường, Phan Thiết. 18- Dn Hồ Ngọc Diệp, Đà Nẵng. 19- Gv Trần Doãn, Quảng Ngãi. 20- Ms Lê Thị Phú Dung, Sài Gòn. 21- Gv Hồ Anh Dũng, Huế. 22- Gs Trương Quang Dũng, Huế. 23- Bs Hà Xuân Dương, Huế. 24- Cựu Đại tá Phạm Quế Dương, Hà Nội. 25- Ls Nguyễn Văn Đài, Hà Nội. 26- Kt Trần Văn Đón, Phan Thiết. 27- Bs Hồ Đông, Vĩnh Long. 28- Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải, Huế. 29- Dn Trần Văn Ha, Đà Nẵng. 30- Gv Lê Thị Bích Hà, Cần Thơ. 31- Bs Lê Thị Ngân Hà, Huế. 32- Gv Lê Nguyễn Xuân Hà, Huế. 33- Vũ Thuý Hà, Hà Nội. 34- Ks Đỗ Nam Hải, Sài Gòn. 35- Gv Trần Thạch Hải, Hải Phòng. 36- Kt Trần Việt Hải, Vũng Tàu. 37- Ks Đoàn Thị Diệu Hạnh, Vũng Tàu. 38- Dn Nguyễn Thị Hạnh, Đà Nẵng. 39- Gv Phan Thị Minh Hạnh, Huế. 40- Gs Đặng Minh Hảo, Huế. 41- Nv Trần Hảo, Vũng Tàu. 42- Nv Trần Mạnh Hảo, Sài Gòn. 43- Gv Lê Lệ Hằng, Huế. 44- Lm Giuse Nguyễn Đức Hiểu, Bắc Ninh. 45- Yt Chế Minh Hoàng, Nha Trang. 46- Gv Văn Đình Hoàng, Huế. 47- Gv Lê Thu Minh Hùng, Sài Gòn. 48- Gs Nguyễn Minh Hùng, Huế. 49- Lm Gk Nguyễn Văn Hùng, Huế. 50- Gv Phan Ngọc Huy, Huế. 51- Gv Lê Thị Thanh Huyền, Huế. 52- Gv Đỗ Thị Minh Hương, Huế. 53- Ths Mai Thu Hương, Hải Phòng. 54- Yt Trần Thu Hương, Đà Nẵng. 55- PTs Nguyễn Ngọc Kế, Huế. 56- Gs Nguyễn Chính Kết, Sài Gòn. 57- Ths Nguyễn Quốc Khánh, Huế. 58- Gv Nguyễn Đăng Khoa, Huế. 59- Cựu Thiếu tá Vũ Kính, Hà Nội. 60- Nv Bùi Lăng, Phan Thiết. 61- Gv Tôn Thất Hoàng Lân, Sài Gòn. 62- Hội trưởng PGHHTT Lê Quang Liêm, Sài Gòn. 63- Bs Vũ Thị Hoa Linh, Sài Gòn. 64- Lm G.B. Nguyễn Cao Lộc, Huế. 65- Lm Phêrô Phan Văn Lợi, Huế. 66- Gv Ma Văn Lựu, Hải Phòng. 67- Gv Nguyễn Văn Lý, Hải Phòng. 68- Lm Tađêô Nguyễn Văn Lý, Huế. 69- Gv Cái Thị Mai, Hải Phòng. 70- Gv Cao Thị Xuân Mai, Huế. 71- Gv Nguyễn Văn Mai, Sài Gòn. 72- Nv Hà Văn Mầu, Cần Thơ. 73- Gv Phan Văn Mậu, Huế. 74- Nv Lê Thị Thu Minh, Cần Thơ. 75- Gv Ma Văn Minh, Huế. 76- Gv Nguyễn Anh Minh, Sài Gòn. 77- Bs Huyền Tôn Nữ Phương Nhiên, Đà Nẵng. 79- Bùi Kim Ngân, Hà Nội. 79- Ths Đặng Hoài Ngân, Huế. 80- Lm G.B. Lê Văn Nghiêm, Huế. 81- Ms Ngô Hoài Nở, Sài Gòn. 82- Gv Lê Hồng Phúc, Hải Phòng. 83- Lm Đaminh Phan Phước, Huế. 84- Ks Võ Lâm Phước, Sài Gòn. 85- Lm Giuse Cái Hồng Phượng, Huế. 86- Ms Nguyễn Hồng Quang, Sài Gòn. 87- Ks Tạ Minh Quân, Cần Thơ. 88- Lm Augustinô Hồ Văn Quý, Huế. 89- Lm Giuse Trần Văn Quý, Huế. 90- Bs Võ Văn Quyền, Vĩnh Long. 91- Bs. Trần Thị Sen, Nha Trang. 92- Cư sĩ PGHHTT Lê Văn Sóc, Vĩnh Long. 93- Ks Hoàng Sơn, Hải Phòng. 94- Lm Phaolô Ngô Thanh Sơn, Huế. 95- Gs Nguyễn Anh Tài, Đà Nẵng. 96- Ks Đỗ Hồng Tâm, Hải Phòng. 97- Bs Tạ Minh Tâm, Cần Thơ. 98- Gs Nguyễn Thành Tâm, Huế. 99- Ms Phạm Ngọc Thạch, Sài Gòn. 100- Gv Nguyễn Bình Thành, Huế. 101- Gv Văn Bá Thành, Huế. 102- Cư sĩ PGHHTT Nguyễn Văn Thơ, Đồng Tháp. 103- Ths Trần Mạnh Thu, Hải Phòng. 104- Gs Ts Trần Hồng Thư, Sài Gòn. 105- Nv Hoàng Tiến, Hà Nội. 106- Cựu Sq Trần Dũng Tiến, Hà Nội. 107- Lm Têphanô Chân Tín, Sài Gòn. 108- Gv Nguyễn Khắc Toàn, Hà Nội. 109- Nv Tôn Nữ Minh Trang, Phan Thiết. 110- Gv Chế Thị Hồng Trinh, Huế. 111- Bs Nguyễn Anh Tú, Đà Nẵng. 112- Bs Đoàn Minh Tuấn, Sài Gòn. 113- Gv Lê Trí Tuệ, Hải Phòng. 114- Yt Trần Thị Hoài Vân, Nha Trang. 115- Gv Ngô Thị Tường Vi, Quảng Ngãi. 116- Gv Nguyễn Lê Xuân Vinh, Cần Thơ. 117- Ths Hồ Ngọc Vĩnh, Đà Nẵng. 118- Ks Lâm Đình Vĩnh, Sài Gòn vvvv 
2) Danh sách Nhóm Hiến Chương 77 – Tiệp Khắc ủng hộ Khối 8406, trong Thư Ngỏ gửi đi từ thủ đô Praha, ngày 23 tháng 5 năm 2006.
      1-Zdeněk Bárta, 2-Jan Bednář, 3-Jiří Bednář, 4-John Bok, 5-Otta Bednářová, 6-Jarmila Bělíková, 7-Jiří Boreš, 8-Jiří Dienstbier, 9-Jan Zeno Dus, 10-Přemysl Fialka, 11-Karel Freund, 12-Václav Havel, 13-Jiří Holba, 14-Jaroslav Hutka, 15-Mikoláš Chadima, 16-Heřman Chromý , 17-Přemysl Janýr, 18-Helena Klímová, 19-Vavřinec Korčiš, 20-Václav Malý, 21-David Němec, 22-Ondřej Němec, 23-Martin Palouš, 24-Petr Pithart, 25-Věra Roubalová, 26-František Rudl, 27-Jan Ruml, 28-Jan Schneider, 29-Vojtěch Sedláček, 30-Karol Sidon, 31-Jan Sokol, 32-Jan Štern, 33-Jan Šabata, 34-Jaroslav Šabata,, 35-Anna Šabatová, 36-Jiřina Šiklová, 37-Libuše Šilhánová, 38-Jan Šimsa, 39-Václav Trojan, 40-Trinkewitze, 41-Petr Uhl, 42-Jan Urban, 43-Jiří Vančura, 44-Zdeněk Vašíček, 45-Tomáš Vrba, 46-Jan Zvěřina, 47-Václav Žák, và 3 người chịu trách nhiệm canh giữ di sản của Hiến Chương 77 cùng ký là 48-Rudolf Battěk, 49-Jiří Gruntorád, 50-Dana Němcová. 
3) Danh sách 50 dân biểu Hoa Kỳ ủng hộ Khối 8406, trong Thư Ngỏ gửi đi ngày 30-5-2006 từ thủ đô Washington:
      1-Loretta Sanchez, 2-Tom Davis, 3-Chris Smith, 4-Zoe Lofgren, 5-Major Owens, 6-Linda Sanchez, 7-Shelley Berkley, 8-Carolyn McCarthy, 9-Grace Napolitano, 10-Jim Matheson, 11-Charles A-Gonzalez, 12-Dan Boren, 13-Ed Case, 14-Allen Boyd, 15-Alan B-Mollohan, 16-Mike Thompson, 17-Ellen Tauscher, 18-Gene Taylor, 19-Nita Lowey, 20-Ed Pastor, 21-Charlie Melancon, 22-Bud Cramer, 23-Ron Kind, 24-Ben Chandler, 25-Mike Ross, 26-Mike Doyle, 27-Leonard Boswell, 28-Alcee Hastings, 29-Brad Sherman, 30-Dennis Cardoza, 31-Ted Strickland, 32-Sherrod Brown, 33-Jan Schakowsky, 34-Carolyn Maloney, 35-Chris Van Hollen, 36-Maurice Hinchey, 37-Gary Ackerman, 38-Raúl Grijalva, 39-Kendrick Meek, 40-Hilda Solis, 41-Tim Ryan, 42-Benjamin Cardin, 43-Al Green, 44-Mike Honda, 45-Tammy Baldwin, 46-Adam Schiff, 47-Dan Burton, 48-Susan Davis, 49-Michael McNulty, 50-Ed Royce 
4) Danh sách 36 Dân biểu và Thượng Nghị sĩ Quốc hội Liên bang Australia ủng hộ Khối 8406, trong bức Thư Ngỏ ngày 6-12-2006, gửi đi từ thủ đô Canberra – Australia:
      Chris Bowen, Bruce Baird, Andrew Bartlett, Kerry Bartlett, Sharon Bird, George Brandis, Bob Brown, Anna Burke, Alan Cadman, Robert McClelland, Brendan O'Connor, Simon Crean, Michael Danby, Annette Ellis, Laurie Ferguson, Peter Garrett, Steve Georganas, Sharon Grierson, Michael Hatton, Chris Hayes, Gary Humphries, Annette Hurly, Julia Irwin, Michael Keenan, Linda Kirk, Kate Lundy, Claire Moore, Kerry Nettle, Julie Owens, Marise Payne, Bernie Ripoll, Nicola Roxon, Glenn Sterle, Lindsay Tanner, Concetta Fierravanti- Wells, Penny Wong. 
5) Danh sách chưa đầy đủ các tù nhân lương tâm đang bị Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam giam giữ tại Việt Nam. (tính đến 31-03-2010, MLNQVN)
1) Đoàn Văn Diên - sinh 1954, Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, bị bắt 5/11/2006, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn ngày 10-12-2007 kết án 4 năm 6 tháng tù giam. Hiện giam tại B5 Đồng Nai.
2) Dương Thị Tròn - sinh 1947, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, Giáo Hội PGHHTT tỉnh Đồng Tháp, bị bắt 2-10-2006, phiên tòa sơ thẩm Đồng Tháp 03-05-2007 kết  án 4 năm tù giam. Hiện giam tại B5 Đồng Nai.
3) Hàng Tấn Phát – sinh 1984, cư trú Sài Gòn, bị  bắt 23-09-2005, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 29-01-2008 kết án 6 năm tù giam. Hiện giam tại Trại Z30A Phân trại 2, Xã Xuân Trường, Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
4) Lê  Công Định - sinh 1968, luật sư, Phó Chủ Nhiệm Luật Sư Đoàn Sài Gòn 2005-2008, bị bắt 13-06-2009, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 20-01-2010 kết án 5 năm tù giam + 3 năm quản chế. Nơi giam hiện nay: chưa rõ.
5) Lê  Nguyên Sang - sinh 1959, bác sĩ, Đảng Dân Chủ Nhân Dân, bị bắt 14-08-2006, phiên tòa phúc thẩm Sài Gòn 17-08-2007 kết án 4 năm tù giam. Hiện giam tại Trại Z30A Phân trại 2, Xã Xuân Trường, Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
6) Lê  Thăng Long - sinh 1967, kỹ sư, bị bắt 14-06-2009, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 20-01-2010 kết án 5 năm tù giam + 3 năm quản chế. Nơi giam hiện nay: chưa rõ.
7) Lê  Văn Sóc - sinh 1956, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, Giáo Hội PGHHTT tỉnh Vĩnh Long, bị bắt 4-11-2006, phiên tòa sơ thẩm Đồng Tháp 03-05-2007 kết án 6 năm tù giam.
8) Ngô  Quỳnh - sinh 1984, sinh viên, Bắc Giang, bị bắt 1-10-2008, phiên tòa sơ thẩm Hải Phòng 09-10-2009 kết án 3 năm tù + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
9) Nguyễn Bắc Truyển - sinh 1968, luật sư, Đảng Dân Chủ  Nhân Dân,  bị bắt 14-08-2006, phiên tòa phúc thẩm Sài Gòn 17-08-2007 kết án 3 năm 6 tháng. Hiện giam tại Trại Z30A Phân trại 2, Xã Xuân Trường, Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
10) Nguyễn Bình Thành - sinh 1955, thợ điện, Đảng Thăng Tiến VN, bị bắt 17-02-2007, phiên tòa sơ thẩm Huế  30-03-2007 kết án 5 năm tù giam + 2 năm quản chế. Hiện giam tại Trại tù Nam Hà.
11) Nguyễn Kim Nhàn - sinh 1949, Trưởng nhóm dân oan Bắc Giang, bị  bắt 25-09-2008, phiên tòa sơ thẩm Hải Phòng 09-10-2009 kết án 2 năm tù + 2 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
12) Nguyễn Mạnh Sơn - sinh 1943, cán bộ nghỉ hưu, Hải Phòng, bị bắt 8-5-2009, phiên tòa sơ thẩm Hải Phòng 09-10-2009 kết án 3 năm rưỡi tù + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
13) Nguyễn Phong - sinh 1975, Chủ tịch Đảng Thăng Tiến VN, bị  bắt 17-02-2007, phiên tòa sơ thẩm Huế 30-03-2007 kết án 6 năm tù giam + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại tù Thanh Hóa.
14) Nguyễn Tiến Trung - sinh 1983, kỹ sư, Đảng Dân Chủ  VN, bị bắt 7-7-2009, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 20-01-2010 kết án 7 năm tù giam + 3 năm quản chế. Nơi giam hiện nay: chưa rõ.
15) Nguyễn Văn Đài - sinh 1969, luật sư, Chủ tịch sáng lập Uỷ Ban Nhân Quyền VN, bị bắt 6-3-2007, phiên tòa phúc thẩm Hà Nội 27-11-2007 kết án 4 năm tù giam + 4 năm quản chế. Hiện giam tại Trại tù K1, Xã Ba Sao, Huyện Kim Bảng, Thị xã Phủ Lý, Tỉnh Hà Nam.
16) Nguyễn Văn Hải (Blogger Điếu Cày) - sinh 1952, nhà báo, Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, bị bắt 20-04-2008, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 10-09-2008 kết án 2 năm 6 tháng tù giam. Hiện giam tại Nhà Tù Chí Hòa, Quận 10 - TP. HCM.
17) Nguyễn Văn Lý - sinh 1946, linh mục Công giáo, bị bắt 18-02-2007, phiên tòa sơ thẩm Huế 30-03-2007 kết án 8 năm tù giam + 5 năm quản chế. Sau 2 năm rưỡi tại nhà tù Ba Sao tỉnh Hà Nam, Linh mục Lý bị tai biến mạch máu não, được đưa vào bệnh viện điều trị, măc dù chưa bình phục, linh mục bị trả về lại nhà tù Ba Sao. Sức khỏe của linh mục hiện đang suy sút trầm trọng.
18) Nguyễn Văn Ngọc - sinh 1959, kinh doanh, Nhóm Người Việt Nam Yêu Nước, bị bắt 28-02-2007, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 11-12-2007 kết án 4 năm tù giam + 3 năm quản chế.
19) Nguyễn Văn Thơ - sinh 1939, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, Giáo Hội PGHHTT tỉnh Đồng Tháp, bị bắt 2-10-2006, phiên tòa sơ thẩm Đồng Tháp 03-05-2007 kết án 6 năm tù giam.
20) Nguyễn Văn Thùy - tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, Giáo Hội PGHHTT tỉnh Vĩnh Long, bị bắt 22-04-2006, phiên tòa sơ  thẩm Đồng Tháp 03-05-2007 kết án 5 năm tù giam.
21) Nguyễn Văn Tính - sinh 1942, nhà báo, Báo Tổ Quốc, Hải Phòng, bị bắt 24-09-2008, phiên tòa sơ thẩm Hải Phòng 09-10-2009 kết án 3 năm rưỡi tù + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà  Nội.
22) Nguyễn Văn Túc, sinh 1964, dân oan Thái Bình, bị bắt 10-9-2008, phiên tòa sơ thẩm Hải Phòng 09-10-2009 kết án 4 năm tù + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
23) Nguyễn Xuân Nghĩa - sinh 1949, nhà văn, hội viên Hội Nhà Văn TP Hải Phòng, Ban điều hành khối 8406, bị bắt 10-9-2008, phiên tòa sơ thẩm Hải Phòng 09-10-2009 kết án 6 năm tù + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
24) Phạm Bá Hải - sinh 1968, kinh doanh, Tổ Chức Bạch Đằng Giang, bị bắt 7-9-2006, phiên tòa phúc thẩm Sài Gòn 08-08-2008 kết án 5 năm tù giam + 2 năm quản chế. Hiện giam tại Trại Z30A Phân trại 2, Xã Xuân Trường, Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
25) Phạm Thanh Nghiên - sinh 1977, Khối 8406, Hải Phòng, bị bắt 18-09-2008, phiên tòa sơ thẩm Hải Phòng 29-01-2010 kết án 4 năm tù giam + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
26) Phạm Văn Trội - sinh 1972, kỹ sư, Uỷ Ban Nhân Quyền VN, bị bắt 10-9-2008, phiên tòa sơ thẩm Hà  Nội 08-10-2009 kết án 4 năm tù + 4 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
27) Phùng Quang Quyền - sinh 1956, Đảng Vì Dân, bị bắt lần thứ 3 ngày 30-8-2009, hiện giam tại Trại Tạm Giam B-34 Bộ Công An ở số 237 đường Nguyễn Văn Cừ, Quận 1, Tp. HCM. Chưa xét xử.
28) Trần Anh Kim - sinh 1949, cựu Trung Tá QĐNDVN, Đảng Dân Chủ  VN, bị bắt 7-7-2009, phiên tòa sơ thẩm tỉnh Thái Bình ngày 18-1-2010 kết án 5 năm rưỡi tù giam + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
29) Trần  Đức Thạch - sinh 1952, nhà thơ, Nghệ An, bị  bắt 10-9-2008, phiên tòa sơ thẩm Hà Nội 06-10-2009 kết án 3 năm tù + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Hỏa Lò - xã Xuân Phương, Cầu Diễn - Hà Nội Việt Nam.
30) Trần Huỳnh Duy Thức - sinh 1966, kỹ sư, Tổng giám đốc Cty OCI, bị bắt 24-5-2009, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 20-01-2010 kết án 16 năm tù giam + 5 năm quản chế. Nơi giam hiện nay: chưa rõ
31) Trần Khải Thanh Thủy - sinh 1960, nhà văn, bị bắt 10-8-2009, phiên tòa sơ thẩm Hà Nội 27-1-2010 kết án 3 năm rưỡi tù giam.
32) Trần Quốc Hiền - sinh 1965, luật sư, Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, bị bắt 12-1-2007, phiên tòa sơ  thẩm Sài Gòn 15-05-2007 kết án 5 năm tù giam + 2 năm quản chế. Hiện giam tại Trại Z30A Phân trại 2, Xã  Xuân Trường, Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
33) Trần Thị Lệ Hồng - sinh 1959, kinh doanh, Hiệp hội  Đoàn Kết Công Nông Việt Nam, bị bắt 15-11-2006, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 10-12-2007 kết án 3 năm tù  giam. Hiện giam tại B5 Đồng Nai.
34) Trịnh Quốc Thảo - sinh 1956, kinh doanh, Nhóm Người Việt Nam Yêu Nước, bị bắt 28-02-2007, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 11-12-2007 kết án 2 năm tù giam + 2 năm quản chế. Hiện đã mãn hạn tù, đang bị quản chế tại địa phương
35) Trương Minh Đức - sinh 1960, nhà báo, Đảng Vì Dân, Kiên Giang, bị bắt 5-5-2007, phiên tòa phúc thẩm Sài Gòn 18-07-2008 kết án 5 năm tù giam + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại Z30A Phân trại 2, Xã Xuân Trường, Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
36) Trương Minh Nguyệt - sinh 1946, kỹ sư, Hội Ái Hữu Tù  Nhân Chính Trị và Tôn Giáo, bị bắt 4-6-2007, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 11-12-2007 kết án 4 năm tù giam + 3 năm quản chế.
37) Trương Quốc Huy - sinh 1980, tham gia diễn đàn Paltalk, Sài Gòn, bị bắt 18-08-2006, phiên tòa sơ thẩm Sài Gòn 29-01-2008, kết án 6 năm tù giam. Hiện giam tại Trại Z30A Phân trại 2, Xã Xuân Trường, Huyện Xuân Lộc, Đồng Nai.
38) Vũ  Hùng - sinh 1966, giáo viên, Hà Tây, bị bắt 18-09-2008, phiên tòa sơ thẩm Hà Nội 07-10-2009 kết án 3 năm tù + 3 năm quản chế. Hiện giam tại Trại giam B14, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
6- Danh sách các thành viên Khối 8406 được trao
các Giải Nhân quyền của Việt Nam và  quốc tế 
Giải Nhân quyền Việt Nam
của Mạng Lưới Nhân quyền Việt Nam (Hoa Kỳ)
2002: Linh mục Nguyễn Văn Lý
2003: Bác sĩ Phạm Hồng Sơn, Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn.
2004: Cựu Đại tá  Phạm Quế Dương.
2005: Hội trưởng PGHH Thuần túy Lê Quang Liêm, Linh mục Phan Văn Lợi
2006: Kỹ sư Đỗ Nam Hải, Giáo sư Nguyễn Chính Kết
2007: Giáo sư Hoàng Minh Chính, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Luật sư  Lê Thị Công Nhân
2008: Thượng tọa Thích Thiện Minh, bán nguyệt san Tự do Ngôn Luận
2009: Mục sư Nguyễn Công Chính, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy 
Giải Homo Homini 2003 của Sáng hội Cứu Người Lâm Nạn (Tiệp)
Linh mục Nguyễn Văn Lý
Giải Shalom 2004 của Đại học Công giáo Eichstätt-Ingolstadt (Đức).
Linh mục Nguyễn Văn Lý
Giải  Hellman-Hammett 2007 của Human Rights Watch (Hoa Kỳ)
Nguyễn Chính Kết, Phạm Quế Dương, Trần Khải Thanh Thuỷ, Nguyễn Khắc Toàn.
Giải Hellman-Hammett 2008 của Human Rights Watch (Hoa Kỳ)
Linh mục Nguyễn Văn Lý, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Xuân Nghĩa, Lê Thị  Công Nhân,
Giải Hellman-Hammett 2009 của Human Rights Watch (Hoa Kỳ)
Thượng tọa Thích Thiện Minh, Phạm Thanh Nghiên, Trần Anh Kim, Vi Đức Hồi
Giải Stephanus 2010 của Stephanus Foundatiton (Đức)
Luật sư  Lê Thị Công Nhân, luật sư Nguyễn Văn  Đài